vanban.org

Bản án 08/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hà Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hà Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HS-ST
Ngày 15-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Văn Thăm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Dung.

Ông Đinh Công Ó.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Người tiến hành tố tụng:

Kiểm tra viên: Bà Cầm Quỳnh Anh.

- Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ, Chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Lò Hải Dương và ông Vì Văn Vượng.

Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2022/TLST-HS ngày 26/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:09/2022/QĐXXST-HS ngày 03/11/2022 đốivới bị cáo:

Hà Văn T (tên gọi khác: không), sinh ngày 27 tháng 7 năm 1984 tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: bản P, xã HT, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn G (đã chết) và bà Hà Thị P; vợ là Lò Thị C, sinh năm 1985 (đã ly hôn) và 01 con, 15 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: ngày 13/4/2018 bị Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 20 tháng và ngày 09/6/2020 Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2022 cho đến ngày xét xử - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 40 phút ngày 09/8/2022, tổ Cảnh sát giao thông Mường Cơi, đội CSGT đường bộ số 2, Phòng CSGT Công an tỉnh Sơn La chủ trì phối hợp với Đội CSĐTTP về kinh tế - ma túy Công an huyện Phù Yên làm nhiệm vụ tại Km 381 Quốc lộ 37, thuộc địa phận Tiểu khu x, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La phát hiện Hà Văn T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra và phát hiện thu giữ được ma túy bên trong túi áo bên trái đang mặc của T.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 chất bột màu trắng nghi là Herone lớp ngoài được gói bằng nilon mầu trắng, lớp thứ 2 được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen bên trong có 01 sim điện thoại có số thuê bao 0388.840.245.

Quá trình điều tra, Hà Văn T khai nhận: Khoảng 12h ngày 09/8/2022, T đang ở nhà thì có một ngườiđàn ông chỉ biết hay gọi là H, ở bản G, xã HT, huyện Phù Yên gọi điện cho T hỏicó lấy được hàng không (ý hỏi có lấy được ma túy không). T trả lời là để gọi hỏi thử xem rồi gọi điện cho một người tên G ở Tiểu khu X, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên hỏi G có ma túy bán không để cho một ít. G trả lời là có và bảo T xuống nhà G, một lúc sau H đi xe máy đến đón và chở T đi đến khu vực chợ Trung tâm thị trấn Phù Yên rồi T xuống xe đứng đợi. H điều khiển xe máy đi đâu đó, khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho T số tiền 400.000 đồng để đimua ma túy. Có tiền T đi bộ đến nhà G, đưa cho G 400.000 đồng rồi nhận lại 01 gói ma túy loại Heroine. Mua được ma túy, T cất vào trong túi áo bên trái đang mặc rồi đi bộ về. T đi được khoảng 100m thì bị phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Ngày 09/8/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh gói ma túy thu giữ của Hà Văn T được 0,131gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu T1

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số 129/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy vật chứng của vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 1362/KL-KTHS ngày 12/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định 0,131gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,131gam; loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Bản cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 24/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo Hà Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ quyền công tố luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 18-24 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở + 01 mảnh nilon màu trắng + 01 giấy trắng có dòng kẻ.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại RM-969 màu đen, bên trong có 01 sim số 0388.840.245.

- Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Văn T, do bị cáo thuộc hộ nghèo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra, không có ý kiến gì tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 50 phút ngày 09/8/2022 tại tiểu khu X, thị trấn Phù Yên; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản làm việc về việc mở niêm phong, cân tịnh lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; bản ảnh mở niêm phong, cân tịnh và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 09/8/2022, bị cáo Hà Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,131gam Heroine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy đã từng bị TAND huyện Phù Yên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, để cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS.

Do thời gian tạm giam của bị cáo sắp hết, nên HĐXX quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, gia đình thuộc hộ nghèo, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở + 01 mảnh nilon màu trắng + 01 giấy trắng có dòng kẻ. Xét thấy không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại RM-969 màu đen, bên trong có 01 sim số 0388.840.245. Xét thấy đây là công cụ, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với người đàn ông tên H, theo lời khai của bị cáo H đã đưa số tiền 400.000 đồng cho bị cáo để đi mua ma túy. Do bị cáo không biết tên thật, địa chỉ chính xác nên cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý. Đối với người đàn ông tên G, người đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan cảnh sát điều tra lấy lời khai, tiến hành đối chất, G không thừa nhận được bán ma túy cho T. Ngoài lời khai của bị cáo, không có căn cứ nào khác để khẳng định G bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của xã do đó cần miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hà Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy: 01 Chiếc phong bì thư của Công an huyện Phù Yên còn nguyên niêm phong mặt trước ghi: “Công an tỉnh Sơn La - Công an huyện Phù Yên. Phong bì niêm phong vật chứng vụ Hà Văn T, sinh năm 1984 có hành vi cất dấu trái phép chất ma tuý. Niêm phong hồi 16 giờ 05 phút, ngày 09/8/2022 tại Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở + 01 mảnh nilon màu trắng+ 01 giấy trắng có dòng kẻ. Mặt sau phong bì sử dụng 01 giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La có số 096036 dán lên các mép giáp lai. Trên giấy niêm phong có chữ ký và họ tên của thành phần tham gia niêm phong, 02 dấu đỏ hình tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đóng giáp lai.

-Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 Chiếc phong bì thư của Công an huyện Phù Yên còn nguyên niêm phong mặt trước ghi: “Công an tỉnh Sơn La - Công an huyện Phù Yên. Phong bì niêm phong vật chứng vụ Hà Văn T, sinh năm 1984 có hành vi cất dấu trái phép chất ma tuý. Niêm phong hồi 8 giờ 45 phút, ngày 10/8/2022 tại Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Gốm có: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại RM-969 màu đen, bên trong có 01 sim số 0388.840.245, số IMEL1:357167069335202, IMEL2:357167069335210, máy cũ đã qua sử dụng. Mặt sau phong bì sử dụng 01 giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La có số 096038 dán lên các mép giáp lai. Trên giấy niêm phong có chữ ký và họ tên của thành phần tham gia niêm phong, 02 dấu đỏ hình tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đóng giáp lai.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 08/BB-GNVC ngày 28/10/2022 giữa Công an huyện Phù Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên)

3. Về án phí HSST: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Văn T.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/11/2022).

Cỡ chữ