- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 08 ngày 09.11.2022 Lò Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lò Văn L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HS-ST Ngày 09-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Mầng và ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngo ̣c Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn L, sinh ngày 15/8/1974, tại NG, ML, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản CT, xa NN, huyê ̣̃
n SM, tỉnh Sơn La; Nơi ta ̣m trú: Bản PP, xã NG, huyện ML, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng tro ̣t; Trình độ văn hoá: 5/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn S, (đã chết) và con bà Lò Thi ̣ P, sinh năm 1945; Có vợ là Lò Thi ̣ T, sinh năm 1984 và có 03 con, con lớ n nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2022; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đă ̣ng Văn Q, Trợ giúp viên pháp lý, công tác ta ̣i Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nướ c tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 18/7/2022 ta ̣i khu vực bản PM, xa NG, huyê ̣̃
n ML, Công an xã NG, huyê ̣n ML phát hiê ̣n bắt quả tang Lò Văn L đang có hành vi cất giấu 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứ a chất bô ̣t màu trắng, Lả khai nhâ ̣n là Heroine cất giấu để sử du ̣ng.
Vật chứng thu giữ:
01 gói nilon màu hồng, bên trong chứ a chất bô ̣t màu trắng, nghi là Heroine.
Ngày 18/7/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML và Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ khi bắt quả tang. Kết quả: 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứ a cu ̣c bô ̣t màu trắng có khối lượng là 0,23 gam, lấy hết làm mẫu giám định ký hiệu L. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định số 77. Tại Kết luận giám định số 1257 ngày 20/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: Mẫu gửi giám định L là chất ma túy; loại Heroine. Khối lượng mẫu gử i giám đi ̣nh là 0,23 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,23 gam, loa ̣i Heroine. Mẫu gử i giám đi ̣nh đa sữ ̉ du ̣ng hết trong quá trinh già
́m đi ̣nh.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Lò Văn L khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/7/2022 L đi bô ̣ từ nhà ở bản PP, xa NG đến bã
̉n PM, xa NG để tĩ
̀m mua ma túy về sử du ̣ng. Ta ̣i khu vực bản PM, xa NG L gă ̣̃
p mô ̣t ngườ i đàn ông dân tô ̣c Mông không biết tên tuổi, đi ̣a chi. Sau khi nỏ
́i chuyê ̣n L hỏi mua được của ngườ i đàn ông này 01 gói Heroine vớ i số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine L cất vào túi quần đang mă ̣c trên ngườ i rồi đi bô ̣ về nhà thi bi ̣̀ Công an xã NG, huyê ̣n ML phát hiê ̣n bắt quả tang.
Đối vớ i người đàn ông theo lờ i khai của Lò Văn L đa bã ́n ma túy cho Lò Văn L vào ngày 18/7/2022, L không biết tên, tuổi, địa chi, viê ̣̉
c mua bán không ai biết hoă ̣c chứ ng kiến. Ngoài lờ i khai của Lả Cơ quan điều tra Công an huyện ML không thu thâ ̣p được tài liê ̣u chứ ng cứ khác nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 71/CT-VKSML ngày 14/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo Lò Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt Lò Văn L từ 20 tháng đến 26 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong cù
̃; 01 mảnh nilon màu hồng).
Về án phi: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/́ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghi ̣ miễn tiền án phi hinh sự sơ thẩm đối vớ i bi ̣ cáo.
́ ̀
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trinh đô ̣̀
hiểu biết, nhâ ̣n thứ c kém, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bi ̣ cáo có bố đẻ được tă ̣ng thưở ng Huân chương kháng chiến ha ̣ng Nhi. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì
bị̀ cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, ngườ i bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn L thừa nhận: Ngày 18/7/2022 Lò Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,23 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã NG, huyện ML phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người chứng kiến.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn L đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 0,23 gam Heroine của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và ngườ i bào chữa cho bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, bi ̣ cáo có bố đẻ được tă ̣ng thưở ng Huân chương kháng chiến ha ̣ng Nhi.̀
Về hình phạt
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.
Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong cù
̃; 01 mảnh nilon màu hồng). Là của bị cáo dùng thực hiện tội phạm, không có giá tri ̣ sử du ̣ng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố: bị cáo Lò Văn L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn L 19 (Mườ i chín) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 18/7/2022).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong cù
̃; 01 mảnh nilon màu hồng).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện ML và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí hinh sự̀
sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn L.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 09/11/2022.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện ML (2); - Công an huyện ML; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Trại giam CA tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện ML; - THA hình sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |