- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Tr - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 116/2021/HSST ngày 21/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Pl, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HS-PT Ngày 25-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình
Bà Đinh Thị Như Phượng
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Cáp Văn Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 86/2021/TLPT-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Tr do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 116/2021/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Pl, tỉnh Gia Lai.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hoàng Tr, sinh năm 1986, tại Gia Lai. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn 2, xã A P, thành phố Pl, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ Th, bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 19/7/2020 Nguyễn Hoàng Tr điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius hai bánh, màu đen trắng, biển số 81V1-04957 có dung tích xi lanh 110cm3 chở sau anh Trịnh Như T (thôn 1, xã A P, thành phố Pl) từ nhà anh T đến thị trấn Đ, huyện Đ để uống bia tại một quán cóc ven đường. Đến 21 giờ cùng ngày, Tr điều khiển xe mô tô biển số 81V1-04957 chở anh T đi bên phải trên Quốc lộ 19 (đường L) theo hướng từ thị trấn Đ, huyện Đ đi trung tâm thành phố Pl. Khi đi đến trước số nhà 966 đường L thuộc thôn 1, xã Á, thành phố Pl cách nhà anh T khoảng 20 mét, Tr điều khiển xe mô tô đi khoảng 40km/h và bật đèn tín hiệu xin chuyển hướng nhưng không nhìn phía trước rồi chuyển hướng sang phía bên trái đường L. Cùng lúc này, By điều khiển xe mô tô BKS 81B1-620.68 đi một mình theo hướng ngược chiều đến thì bị Tr điều khiển xe tông vào xe mô tô của anh By gây tai nạn. Hậu quả, Nguyễn Hoàng Tr, anh T, và anh By đều bị thương. Anh T và anh By được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai. Đến ngày 24/7/2020 anh T xuất viện. Sau đó, anh By được gia đình chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định điều trị, đến ngày 27/8/2020 thì anh By xuất viện.
Theo giấy chứng nhận thương tích ngày 24/11/2020 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định thì anh By bị hôn mê sâu, Glasgow 8 điểm, còn phản xạ ánh sáng. Yếu nửa người trái, xây sát da vùng mặt.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 240/20TgT ngày 09/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, kết luận tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe của anh By do tai nạn giao thông vào ngày 19/7/2020: Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 66%. Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 116/2021/HSST ngày 21/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Pl, tỉnh Gia Lai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tr 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
3. Kháng cáo của bị cáo
Ngày 27/9/2021 bị cáo Nguyễn Hoàng Tr kháng cáo xin hưởng án treo.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Tại phiên tòa bị cáo cung cấp đơn của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin cho bị cáo được hưởng án treo và giấy ra viện sau điều trị do tai nạn gây ra.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm. Theo đó, bị cáo điều khiển xe mô tô chở theo anh Trịnh Như T chuyển hướng sang đường vào nhà nhưng không quan sát nên đã tông vào xe mô tô của anh By đi ngược chiều gây tai nạn. Hậu quả anh By bị thương tích 66%, Quá trình điều tra xác định, bị cáo sử dụng giấy phép lái xe giả, nồng độ cồn trong máu là 143mg/dl. Nên Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo thấy rằng: tại phiên tòa bị cáo cung cấp đơn của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin cho bị cáo được hưởng án treo và giấy ra viện sau điều trị do tai nạn gây ra, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được áp dụng cho bị cáo ở giai đoạn sơ thẩm. Bị cáo trình bày lý do xin hưởng án treo vì bị cáo đang nuôi cha mẹ già, sau tai nạn bị cáo phải lo cho bị hại nên còn nợ nhiều. Bị cáo cũng khai nhận gia đình bị cáo có 06 anh chị em, nhưng trách nhiệm chính nuôi cha mẹ già là của bị cáo. Xét nuôi cha mẹ già là nghĩa vụ, trách nhiệm của các con, lý do bị cáo nêu là không phù hợp. Bị cáo cũng không cung cấp căn cứ gì mới chứng minh kháng cáo của bị cáo là có căn cứ. Bên cạnh đó bị cáo còn có hành vi làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đối với việc bị cáo cung cấp bằng lái xe giả cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Pl sau khi xảy ra tai nạn. Kết luận giám định số 676/KLGĐ ngày 14/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai thể hiện: “GIẤY PHÉP LÁI XE”, số AQ 671568, mẫu cần giám định (ký hiệu A) là giả. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Pl kết luận hết thời hiệu khởi tố đối với tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, từ khi mua giấy phép lái xe giả bị cáo để ở nhà chưa sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật, đồng thời bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên chưa đủ căn cứ xử lý bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Cáo trạng cho rằng bị cáo mua giấy phép lái xe giả để ở nhà, không sử dụng, ngày xảy ra tai nạn giao thông cũng không mang theo giấy phép lái xe giả, từ thời điểm mua đên nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo cũng chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hay có tiền án về việc sử dụng tài liệu giả nên không có căn cứ xử lý đối với bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải xem xét, nhận định việc không xử lý đối với bị cáo về hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ chưa, nhưng bản án sơ thẩm không xem xét nhận định vấn đề này là có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội. Do đó, để ổn định bản án này cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử và kiến nghị xem xét.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
U ẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015,
1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 116/2021/HSST ngày 21/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Pl, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tr 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hoàng Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Kiến nghị: Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pl, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Pl tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng Tr về việc “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định của pháp luật.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai - TAND thành phố Pl; - Viện kiểm sát thành phố Pl - Chi cục THADS thành phố Pl; - Công an thành phố Pl; - Bị cáo; - Lưu VT, THS, HSVA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Kim Hồng |