- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị A được ly hôn anh Mai Đức D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HNGĐ-ST Ngày: 19/01/2022 V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lâm
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hoài Sơn
2. Bà Ngô Thị Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2021/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 11 năm 2021 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 12 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị A, sinh năm 1996. Có mặt
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái
2. Bị đơn: Anh Mai Đức D, sinh năm 1993. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09-11 -2021 bản tự khai và lời khai tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị A và anh Mai Đức D tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nhiều lần vợ chồng cãi nhau nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau, anh D không quan tâm đến gia đình những mâu thuẫn đó chị A và anh D đã nhiều lần hòa giải nhưng không được. Từ tháng 9 năm 2021 đến nay chị A và anh D không sống cùng nhau nữa và không còn quan tâm đến nhau.
Nay chị Vũ Thị A xác định tình cảm vợ chồng đã hết. Chị A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Mai Đức D.
Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị A và anh Mai Đức D có 01 con chung cháu Mai Đức D1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019, hiện nay cháu D1 đang sống cùng chị A, khi ly hôn chị A đề nghị Tòa án giải quyết được nuôi dưỡng cháu D1 đến năm 18 tuổi và chị không yêu cầu anh Mai Đức D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Thị A và anh Mai Đức D không có tài sản chung và không nợ ai nên chị A không đề nghị tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Mai Đức D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu gì. Tại phiên tòa anh Mai Đức D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Mai Đức D hiện đang cư trú ở Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
Tại phiên tòa bị đơn anh Mai Đức D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị A và anh Mai Đức D tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nhiều lần vợ chồng cãi nhau nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau, anh D không quan tâm đến gia đình những mâu thuẫn đó chị A và anh D đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Từ tháng 9 năm 2021 đến nay chị A và anh D không sống cùng nhau nữa và không còn quan tâm đến nhau.
Nay chị Vũ Thị A xác định tình cảm vợ chồng đã hết. Chị Vũ Thị A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Mai Đức D. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo phiên hoà giải nhiều lần nhưng anh Mai Đức D đều cố tình lẩn tránh và vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Từ đó có căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị A và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị Vũ Thị A đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Mai Đức D. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị A xử cho chị A được ly hôn anh Mai Đức D là có cơ sở.
Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị A và anh Mai Đức D có 01 con chung cháu Mai Đức D1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019. Hiện nay cháu D1 đang sống cùng chị A cuộc sống ổn định, chị A có thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/01 tháng, có chỗ ở, chị A đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị được nuôi dưỡng cháu D1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và chị A không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Từ những căn cứ nêu trên xét thấy hiện nay cháu D1 chưa đủ 36 tháng tuổi cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, chị Vũ Thị A đề nghị được nuôi dưỡng cháu Mai Đức D1 là chính đáng do đó cần giao cháu D1 cho chị A tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu D1 đủ 18 tuổi là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị A không yêu cầu anh Mai Đức D phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị A không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Vũ Thị A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Mai Đức D không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị A được ly hôn anh Mai Đức D.
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Vũ Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Mai Đức D1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 cho đến khi cháu D1 đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Anh Mai Đức D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Mai Đức D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: AA/2021/0001303, ngày 09-11- 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên (xác nhận chị A đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm). Án xử công khai sơ thẩm. Chị Vũ Thị A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Mai Đức D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Văn Yên; - Chi cục THADS huyện Văn Yên; - Các đương sự; - UBND xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; - Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Lâm |