- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho bà Trần Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Bá T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 08 /2022/HNGĐ-ST Ngày 29 - 4 - 2022 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Hợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang; bà Bùi Thị Thêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Xuân Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Gon Niê - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1986. Địa chỉ: T 12, xã VB, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1985. Địa chỉ: T 04, xã EP, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 11 năm 2021 và các lời khai của nguyên đơn bà Trần Thị X trình bày:
Bà Trần Thị X và ông Nguyễn Bá T có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã EP, huyện M, tỉnh Đắk Lắk từ năm 2018. Tuy nhiên trong quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, tính cách, lối sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Nguyên nhân là do ông T không có trách nhiệm chăm lo vợ lúc ốm đau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân ngày càng trầm trọng. Nên bà X yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà X và ông T được ly hôn.
Về con chung: Bà X và ông T không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Bá T trình bày:
Hôn nhân giữa ông T và bà X là hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã do bất đồng quan điểm, tính cách. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng vẫn còn nên ông T không đồng ý yêu cầu ly hôn của bà X.
Về con chung: Bà X và ông T không có con chung.
Về tài sản chung, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương như sau: Ông T, bà X là vợ chồng, ông T có hộ khẩu thường trú tại T 04, xã EP, huyện M, còn bà X không đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Do ông T và bà X có mâu thuẫn nên bà X đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2019, cả hai đã không sống chung với nhau từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do ông T bà X không có con chung, và mâu thuẫn giữa bà X với vợ cũ của ông T.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự việc thu thập chứng cử, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử (HĐXX) tại phiên tòa: Thực hiện đúng các quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành của các đương sự: Các đương sự chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, đề nghị HĐXX tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung: Do yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ, nên đề nghị HĐXX chấp nhận xử cho bà Trần Thị X ly hôn với ông Nguyễn Bá T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà X yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn với bị đơn ông T, bị đơn hiện đang cư trú tại: T 04, xã EP, huyện M, tỉnh Đắk lắk. Đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Quá trình tố tụng, nguyên đơn bà X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Bá T và bà Trần Thị X là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã EP, huyện M, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 11/12/2018. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Anh T cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn với chị X. Qua xác minh tại địa phương và lời trình bày của các đương sự đều thể hiện vợ chồng không thể hòa hợp, mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn là thực tế, đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mâu thuẫn của nguyên đơn và bị đơn đã được hòa giải nhưng không thành. HĐXX cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho bà X được ly hôn với ông T.
[3] Về con chung: Ông T, bà X không có con chung nên HĐXX không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn bà X phải chịu 300.000đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình. Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình; áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho bà Trần Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Bá T.
2. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình cho bà Trần Thị X.
3. Thông báo quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: -TAND tỉnh ĐắkLắk; -VKSND huyện M’Đrắk; -THADS huyện M’Đrắk; - UBND xã EP, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; -Đương sự; -Lưu HS. | Võ Đức Hợi |