- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HNGĐ-ST Ngày: 12/8/2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Quế.
2. Bà Vương Thị Hội.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Trong ngày 12/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) thụ lý số: 48/2022/TLST-HNGĐ ngày 10/3/2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/7/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Thôn 3, xã N, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
2. Bị đơn: Anh Đinh N, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Làng Srăt, xã S, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt và anh N vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn chị Đinh Thị H trình bày: Chị và anh N qua thời gian quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 31/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Trong quá trình chung sống giữa chị và anh N đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do khác nhau về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, không tin tưởng lẫn nhau nên hay xảy ra cãi vã, anh N thường xuyên uống rượu, chửi bới xúc phạm chị dẫn đến cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, không có hạnh phúc. Từ năm 2016 cho đến nay chị và anh N đã không còn chung sống với nhau, không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau nữa. Do mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị H yêu cầu Tòa giải quyết cho chị và anh N được ly hôn với nhau.
Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung tên Đinh Văn Toang, sinh ngày 01/3/2013, hiện nay cháu đang sống cùng chị H. Sau khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành, có khả năng lao động. Chị H không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh N không có tài sản chung và nợ chung với nhau nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 31/3/2022, bị đơn anh Đinh N trình bày: Chị H yêu cầu xin ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung tên Đinh Văn T, sinh ngày 01/3/2013, anh đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành, có khả năng lao động. Do chị H không yêu cầu nên anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị H không có tài sản chung và nợ chung nên anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Trích lục kết hôn mang tên: Đinh N và Đinh Thị H (bản sao); 01 Sổ hộ khẩu gia đình đứng tên chủ hộ Đinh Thị H (bản sao); 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Thị H (bản sao); 01 Giấy khai sinh mang tên Đinh Văn T (bản sao); 01 Đơn xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 20/6/2022.
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Chị H và anh N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai vào ngày 31/10/2013; anh N và chị H có 01 con chung tên Đinh Văn Toang, sinh ngày 01/3/2013. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do chị H giao nộp là 01 Trích lục kết hôn mang tên: Đinh N và Đinh Thị H (bản sao); 01 Giấy khai sinh mang tên Đinh Văn T (bản sao). Anh N hiện đang sinh sống tại Làng S, xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai thể hiện qua Bản tự khai đề ngày 31/3/2022 do anh N trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Chị Đinh Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa chị và anh Đinh N đang sinh sống tại Làng Srăt, xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Đinh N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; chị Đinh Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Đinh N tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 31/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hợp pháp.
Về yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H:
Chị H cho rằng trong quá trình chung sống giữa chị và anh N đã phát sinh nhiều mẫu thuẫn do khác nhau về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, vợ chồng không còn tiếng nói chung, không còn quan tâm gì đến nhau dẫn đến cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, không có hạnh phúc. Anh N cũng đồng ý ly hôn với chị H vì vợ chồng anh không còn tình cảm gì với nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh N đến Tòa để tham gia phiên hòa giải nhưng anh N không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng với chị H. Bên cạnh đó, tại đơn xác nhận tình trạng hôn nhân mà chị H đã cung cấp thể hiện là chị H và anh N đã không còn chung sống cùng với nhau nữa.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh N đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và Điều 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị H, xử cho chị H được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị Đinh Thị H và anh Đinh N có 01 con chung tên Đinh Văn T, sinh ngày 01/3/2013. Hiện nay con đang sống cùng chị H ổn định về mọi mặt cả vật chất lẫn tinh thần. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành, có khả năng lao động. Anh N cũng đồng ý giao con chung cho H trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 01 con chung tên Đinh Văn T cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đinh Thị H và anh Đinh N không có tài sản chung và nợ chung nên chị H và anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Đinh Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 93, Điều 94, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị H.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Đinh N.
[2] Về con chung: Giao cháu Đinh Văn T, sinh ngày 01/3/21013 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Đinh Thị H không yêu cầu anh Đinh N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con, người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Chị Đinh Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0003420 ngày 10/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
[4] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.
Bản án này đ c thi hành theo qui định tại Điều Lu t thi hành án dân s thì ng i đ c thi hành án dân s , ng i phải thi hành án dân s có quyền thoả thu n thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, t nguy n thi hành án hoặc bị c ng ch thi hành án theo qui định tại các Điều , , a, b và Lu t thi hành án dân s th i hi u thi hành án đ c th c hi n theo qui định tại Điều Lu t thi hành án dân s
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Kbang; - Chi cục THADS huyện Kbang; - Các đương sự; - UBND cấp xã nơi ĐKKH; - Lưu HSVA,VPTA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Ngọc |