- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân Nguyễn Văn Sơn- Hứa Tuyết Nhanh"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:08/2022/HNGĐ-ST Ngày: 25-01-2022 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên
Các hội thẩm nhân dân:
1/- Ông Liêu Tài Ngoánh
2/- Ông Võ Tấn Phước
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Mai Thanh Vũ- kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2021 TL T-HN Đ ngày 29 tháng 10 năm 2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2021/QĐXX-ST ngày 16 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022 QĐ T-HN Đ ngày 05 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn , sinh năm 1972
Địa chỉ: Ấp Cái T, thị trấn H, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu
2. Bị đơn: Chị Hứa Tuyết N, sinh năm 1985
Địa chỉ: Ấp Cái T, thị trấn H, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu
(Anh S có đơn xin vắng mặt, chị N vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 10 năm 2021 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn S trình bày: Anh và chị Hứa Tuyết N xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh T, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu.
Quá trình chung sống anh và chị N có 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 08/6/2001, Nguyễn Anh K, sinh ngày 11 9 2005. Hiện con chung giữa anh và chị N là cháu T đã thành niên và có cuộc sống tự lập, còn cháu K đang sống cùng với anh S.
Về tài sản chung: Anh S và chị N có tạo lập tài sản chung gồm 01 (một) căn nhà gắn liền với đất ngang 05m dài 42m, tọa lạc tại ấp Cái T, thị trấn H, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu, ngoài ra không còn tài sản chung nào khác. Tuy nhiên, anh S xác định anh và chị N đã thống nhất thỏa thuận xong về tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa anh và chị N là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cải nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh và chị N đã dùng nhiều biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được do không còn tình cảm với nhau và hiện tại, anh S không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với chị N.
Nay, anh Nguyễn Văn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hứa Tuyết N; Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 11 9 2005, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Anh và chị N đã thống nhất thỏa thuận xong, nên không yêu cầu Tòa án giải quết; Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh S không còn có yêu cầu gì khác.
Đối với chị Hứa Tuyết N không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời, chị N cũng không cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của anh Nguyễn Văn theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của thủ tục tố tụng dân sự cho chị N, nhưng chị N không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
* Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề xuất: Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn .
2. Về con chung: iao con chung là cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 11/9/2005 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh S không yêu cầu. Chị N được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
4. Án phí: Anh Nguyễn Văn phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị Hứa Tuyết N, nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là chị Hứa Tuyết N có đăng ký thường trú tại Cái T, thị trấn H, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, anh Nguyễn Văn có đơn xin vắng mặt, chị Hứa Tuyết N vắng mặt. Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng dân sự cho chị N để tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án theo yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa anh S và chị N theo quy định, nhưng chị N vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh S và chị N.
Về hôn nhân: Anh S và chị N xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh T, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu và đã được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh T cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/6/2008. Vì thế, hôn nhân giữa anh S và chị N là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Anh S cho rằng trong quá trình chung sống với chị N do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cải nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, nên anh S yêu cầu được ly hôn với chị N.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân muốn tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống anh S và chị N không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cự cãi nhau, dẫn đến hiện tại anh S và chị N đã sống ly thân từ năm 2019. Từ khi sống ly thân đến nay, anh S và chị N đã dùng nhiều biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được do không còn tình cảm với nhau. Trong quá trình xét xử vụ án, anh S vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với chị N, không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy hôn nhân giữa anh S và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa anh Nguyễn Văn đối với chị Hứa Tuyết N.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh S và chị N có 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 08/6/2001, Nguyễn Anh K, sinh ngày 11 9 2005. Hiện con chung giữa anh S và chị N là cháu T đã thành niên và có cuộc sống tự lập, anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Còn cháu K đang sống cùng với anh S, anh S có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu K.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“ 2.Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3.Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.
Xét thấy, cháu K hiện đang sống ổn định cùng với anh S và tại thời điểm giải quyết cháu K đủ 07 tuổi trở lên nên cần phải xem xét nguyện vọng của cháu K để giao cháu cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai của cháu K(BL 24), cháu K có nguyện vọng được sống cùng với anh S. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của cháu K, đồng thời, đảm bảo sự phát triển bình thường và không làm xáo trộn môi trường sống của cháu ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm sinh lý của cháu K, nên cần tiếp tục giao cháu K cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Anh S không yêu cầu chị N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Anh S xác định anh và chị N đã thống nhất thỏa thuận xon, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Anh S xác định anh và chị N không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, anh S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326 2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn đối với chị Hứa Tuyết N, xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn và chị Hứa Tuyết N.
2/- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 11/9/2005 cho anh Nguyễn Văn trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Hứa Tuyết N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh S không yêu cầu. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3/- Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Văn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh S đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002739 ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hòa Bình; - THADS huyện Hòa Bình; - UBND xã Vĩnh T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | Phan Thị Mỹ Xuyên |