vanban.org

Bản án 08/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Thanh N về việc “Ly hôn” ông Nguyễn Đình Linh P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Thanh N được ly hôn ông Nguyễn Đình Linh P. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lương Tường Vy, sinh ngày 23/9/2020 cho ông Nguyễn Đình Linh P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Thanh N về việc “Ly hôn” ông Nguyễn Đình Linh P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HNGĐ-ST
Ngày 26-5-2022
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Sơn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Thanh Nga

2. Bà Nguyễn Thị Thùy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Nông Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2021/TLST–HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 0/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Lương Thị Thanh N, sinh năm 2001;

Địa chỉ: Thôn Phước Trung, xã Phước Cát 2, huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

*Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Linh P, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Thôn Phước Thái, xã Phước Cát 2, huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà N có mặt; ông P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lương Thị Thanh N trình bày: Bà N và ông P kết hôn với nhau năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C. Hôn nhân do hai bên tự nguyện không bị ai ép buộc, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống và làm ăn tại Thôn P, xã P, huyện C. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông P không chịu làm ăn chăm lo cuộc sống gia đình. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N và ông P được ly hôn.

Về con chung: Bà N xác định vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Lương Tường Vy, sinh ngày 23/9/2020. Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Đình Linh P trình bày: Ông P vẫn còn tình cảm và thương yêu bà N, nếu bà N vẫn một mực yêu cầu ly hôn thì ông P đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Lương Tường V, sinh ngày 23/9/2020. Khi ly hôn ông P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lâm Đồng về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của đương sự đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56 , 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Lương Thị Thanh N được ly hôn ông Nguyễn Đình Linh P; về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lương Tường V, sinh ngày 23/9/2020 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: ông P không yêu cầu nên không xem xét; về tài sản: không có nên không xem xét; về nợ chung: đương sự trình bày không có nợ chung nên đề nghị không xem xét; về án phí: bà N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Tòa án nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Xuất phát từ việc vợ chồng mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống nên bà Lương Thị Thanh N xin ly hôn với ông Nguyễn Đình Linh P vì vậy đủ cơ sở xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo qui định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông P tham gia phiên tòa nhưng ông P vẫn vắng mặt vì vậy căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về hôn nhân: Bà Lương Thị Thanh N và ông Nguyễn Đình Linh P tự nguyện sống chung và kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Phước Cát 2, huyện C đăng ký kết hôn năm 2020, đây là hôn nhân hợp pháp. Bà N xin ly hôn vì lý do trong quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh niều mâu thuẫn, tranh cãi, xô sát, hai vợ chồng không thể hòa hợp được. Ông P cho rằng vẫn còn tình cảm với bà N, nhưng nếu bà N một mực yêu cầu ly hôn thì ông P cũng đồng ý. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông P đã xảy ra các bên không có biện pháp nào cải thiện tình cảm vợ chồng mà để mặc mâu thuẫn xảy ra ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống như vậy mục đích hôn nhân giữa bà N và ông P không đạt được vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của bà N cho bà N và ông P được ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Bà N và ông P có 01 con chung tên Nguyễn Lương Tường V, sinh ngày 23/9/2020. Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con; ông P cũng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy các bên đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đây là nguyện vọng chính đáng của các đương sự, tuy nhiên hiện nay con chung đang ở với ông P do ông P trực tiêp nuôi dưỡng, ông P thu nhập trung bình hàng tháng từ 8 – 10.000.000 đồng, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung cần giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của ông P nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí: Bà N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Thanh N về việc “Ly hôn” ông Nguyễn Đình Linh P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Thanh N được ly hôn ông Nguyễn Đình Linh P.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lương Tường Vy, sinh ngày 23/9/2020 cho ông Nguyễn Đình Linh P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Bà Lương Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000554 ngày 06 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ