- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Xuân C yêu cầu được ly hôn chị Phan Thị Lệ H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của chị Phan Thị Lệ H, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HNGĐ-PT Ngày 28 - 02 - 2022 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
Ông Lê Văn Duy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2021/TLPT-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp ly hôn và nuôi con.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 15/2021/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2021/QĐ-PT ngày 10 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân C; cư trú tại: Khu phố 6, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định (Có mặt).
- Bị đơn: Chị Phan Thị Lệ H; cư trú tại: Khu phố 6, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định (Vắng mặt - Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Chị Phan Thị Lệ H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Xuân C và chị Phan Thị Lệ H kết hôn ngày 08/4/2005, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H (nay là phường T, thị xã H). Theo anh C, sau khi kết hôn, vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc bình thường. Năm 2015, chị H bị bệnh ung thư cổ tử cung, anh vẫn quan tâm chăm sóc chị. Nhưng chị H hay gây sự, chửi bới, nghi ngờ anh ngoại tình, nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, có lần chị còn dùng xăng đổ vào người anh, anh phát hiện kịp thời, nên không xảy ra hậu quả. Tháng 02/2021, anh bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở, vợ chồng không chung sống với nhau cho đến nay. Anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không hạnh phúc, nên yêu cầu được ly hôn, anh tự nguyện hỗ trợ cho chị H 10.000.000 đồng để chữa bệnh sau ly hôn. Còn chị H cho rằng, sau khi kết hôn vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc bình thường cho đến ngày 13/10/2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C bỏ nhà đi trước đó 03 ngày, nửa đêm ngày 13/10/2020 về nhà, chị chưa kịp hỏi thì anh đã tát vào mặt chị, nên vợ chồng xảy ra cãi vã, chị không đổ xăng lên người anh C như anh khai. Chị đang bị bệnh hiểm nghèo, rất cần người chồng để nương tựa về mặt tinh thần, vượt qua bệnh tật và mong muốn vợ chồng được đoàn tụ để nuôi con, nên không đồng ý ly hôn.
- Về nuôi con chung: Anh C chị H thống nhất có 02 con chung là Nguyễn Xuân T, sinh ngày 10/5/2005 và Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 17/12/2009, đang ở với chị H, sức khỏe bình thường. Anh C đồng ý theo nguyện vọng của hai cháu - Nếu ở với anh, anh nuôi và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con, nếu ở với chị H, anh cấp dưỡng nuôi các cháu mỗi tháng 5.000.000 đồng. Còn chị H yêu cầu được nuôi hai con chung và yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Anh C chị H thống nhất không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 15/2021/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã H đã quyết định:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Xuân C xin ly hôn chị Phan Thị Lệ H.
2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Phan Thị Lệ H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Xuân T - sinh ngày 10/5/2005 và cháu Nguyễn Ngọc T1 - sinh ngày 17/12/2009.
Anh Nguyễn Xuân C phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.
3. Về tài sản chung: Anh C chị H không yêu cầu, nên không giải quyết.
4. Về hỗ trợ: Anh Nguyễn Xuân C phải giao cho chị Phan Thị Lệ H 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, về cấp dưỡng nuôi con và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 05/11/2021, chị Phan Thị Lệ Hằng kháng cáo không đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng và đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của chị Phan Thị Lệ H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Xuân C xin ly hôn chị Phan Thị Lệ H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Chị Phan Thị Lệ H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Lệ H kháng cáo yêu cầu được đoàn tụ, nhưng anh Nguyễn Xuân C không đồng ý. Thấy rằng: Anh C chị H đăng ký kết hôn ngày 08/4/2005, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc bình thường, cho đến khoảng giữa tháng 10/2021 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị H bị ung thư cổ tử cung giai đoạn IIIB từ giữa năm 2015, quá trình điều trị chị phải hóa xạ trị nhiều lần, nên tinh thần, sức khỏe suy giảm. Do bệnh tật, nên chị tự ti, thay đổi tính tình, hay giận dỗi, nóng nảy; còn anh C lại hay đi chơi về khuya, nên vợ chồng lời qua tiếng lại, xô xát lẫn nhau. Hiện tại, chị H đang bị bệnh hiểm nghèo, rất cần sự cảm thông, chia sẻ, quan tâm, chăm sóc của người chồng đầu ấp tay gối với chị, để chị chống chọi với nỗi đau về thể chất do bệnh tật hành hạ và có điểm tựa về mặt tinh thần để vượt qua bạo bệnh. Anh C yêu cầu được ly hôn, còn chị H lại tha thiết mong muốn vợ chồng được đoàn tụ nuôi con. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của anh chị chưa đến mức trầm trọng, đời sống chung vẫn có thể kéo dài, mục đích của hôn nhân vẫn có thể đạt được. Do đó, chấp nhận kháng cáo của chị Phan Thị Lệ H, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của anh C xin được ly hôn chị H, để tạo điều kiện cho anh chị có cơ hội hàn gắn lại tình cảm, xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh Nguyễn Xuân C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh đã nộp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại chị H tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận kháng cáo của chị Phan Thị Lệ H, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Xuân C xin ly hôn chị Phan Thị Lệ H là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận kháng cáo của chị Phan Thị Lệ H, sửa bản án sơ thẩm.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Xuân C xin ly hôn chị Phan Thị Lệ H.
2. Về án phí:
- Anh Nguyễn Xuân C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng anh đã nộp theo biên lai thu số 0001335 ngày 23/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, anh C đã nộp đủ.
- Chị Phan Thị Lệ H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại chị H 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001625 ngày 08/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Định; - TAND thị xã H; - Chi cục THADS thị xã H; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa GĐ&NCTN. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thúy Liên |