- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "TC HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/DS-ST Ngày: 27 – 7 - 2022 V/v:Tranh chấp về hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thế Hải
2. ÔNg Trương Văn Bắc
- Thư ký phiên tòa ông: PHạm Viết Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa: Bà Hà Thị Hường – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2022 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng chính sách xã hội Việt N– Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Th – Tổng giám đốc
Địa chỉ: Tòa nhà CC5, Bán đảo Linh Đ, quận Hoàng M, TP. Hà N.
- Người được ủy quyền lại: Ông Phạm Văn T – Phó Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng CSXH Nghi S– Có mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Đ– Sinh năm 1972
Địa chỉ: TDP Nổ Giáp 1, phường Nguyên B, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị M – SN 1975.
+ Chị Nguyễn Thị V – SN 1994
+ Chị Nguyễn Thị Ng – SN 1997
+ Chị Nguyễn Thị Ngọc Á – SN 1999
Đều có HKTT tại: TDP Nổ Giáp 1, phường Nguyên B, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H;
Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn trình bày như sau:
Ngày 14/3/2018, đã ký hợp đồng vay vốn số 7086022474 với hộ ông Nguyễn Xuân Đ, số tiền cho vay là 40 triệu đồng theo chương trình vay Hộ mới thoát ngèo, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay 0,6875%/ tháng, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 14/3/2021. Quá trình vay phía hộ gia đình ông Đ không thực hiện đúng cam kết trả nợ, tính đến ngày 25/01/2022, hộ ông Nguyễn Xuân Đ mới trả được số tiền 03 triệu đồng, dư nợ gốc còn lại 37 triệu và nợ lãi 2.482.139đ. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc đốc thúc gia đình ông Đ trả nợ nhưng hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Đến ngày 14/3/2022, mới trả được số tiền lãi là 2.975.556 đồng, thực chất khoản tiền này do các tổ chức xã hội trích từ quỹ ra nộp cho hộ gia đình ông Đcòn về phía hộ gia đình ông Đ vẫn không có thiện chí trả nợ. Theo báo cáo hộ nghèo của UBND phường Nguyên Bình thì hộ gia đình ông Đ không nằm trong hộ nghèo cũng như hộ mới thoát nghèo vì vậy Ngân hàng chính sách xã hội Việt N chi nhánh phòng giao dịch xã hội thị xã Nghi S đề nghị Tòa án buộc hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền gốc là 37 triệu đồng và tiền lãi tính đến ngày 25/7/2022 là: 1.112.279 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh cho Ngân hàng đến khi thanh toán xong số tiền vay.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến làm việc nhưng phía hộ gia đình ông Đkhông chấp hành theo giấy triệu tập vì vậy Tòa án không thể biết được quan điểm của bị đơn cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Qua điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39. Khoản 2 Điều 143, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 BLTTDS; Các Điều 357, 463, 465, 466 BLDS Và Nghị Quyết 326/ UBTVQH. Buộc hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ phải trả cho Ngân hàng chính sách chi nhánh phòng giao dịch thị xã Nghi S, Thanh H số tiền gốc 37 triệu đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 25/7/2022 là 1.112.279 đồng và phải chịu lãi xuất theo hợp đồng vay cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ theo Hợp đồng vay vốn. Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng chính sách Việt Nam chi nhánh phòng giao dịch thị xã Nghi S khởi kiện hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ buộc trả nợ số tiền vay vốn đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có nơi cư trú trên địa bàn thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án phía Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không chấp hành đúng theo quy định của BLTTDS. Tại phiên tòa lần thứ nhất vắng mặt không có lý do, TAND thị xã Nghi Sơn đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định nhưng tại phiên tòa hôm nay vẫn cố tình vắng mặt nên HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về yêu cầu của nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện cũng như phần trình bày của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn xuất trình HĐXX thấy: Ngày 14/3/2018, phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã Nghi S có cho hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ có địa chỉ tại TDP Nổ Giáp 1, phường Nguyên B, thị xã Nghi S vay số tiền 40 triệu đồng, theo chương trình cho vay Hộ mới thoát nghèo, thời hạn vay là 36 tháng, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 14/3/2021, lãi suất là 0,6875%/ tháng, theo Hợp đồng vay vốn số 7086022474. Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã Nghi Sơn đã giải ngân theo hợp đồng vay vốn. Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ đã không thực hiện đúng theo Hợp đồng vay vốn, không trả nợ đúng kỳ hạn. Tính đến ngày 14/03/2022, hộ gia đình ông Đmới thanh toán được 03 triệu đồng tiền gốc và 12.880.167 đồng tiền lãi. Phía Phòng giao dịch thị xã Nghi Sơn đã làm việc nhiều lần với hộ gia đình ông Đ nhưng hộ gia đình ông Đ vẫn không có động thái trả nợ. Tính đến thời điểm ngày 25/7/2022, hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ còn nợ Phòng giao dịch thị xã Nghi Sơn số tiền 37 triệu tiền gốc và lãi 1.112.281 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 26/7/2022.
Tuy quá trình giải quyết vụ án hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ không chấp hành theo giấy triệu tập cũng như các văn bản tố tụng khác tuy nhiên phía Ngân hàng chính sách phòng giao dịch thị xã Nghi S cũng đã cung cấp các biên bản làm việc trực tiếp với hộ gia đình ông Đ, nội dung các văn bản hộ ông Đ thừa nhận toàn bộ quá trình vay vốn và không thực hiện trả nợ đối với Ngân hàng chính sách xã hội. Các biên bản làm việc đều có xác nhận của chính quyền địa phương vì vậy có đủ cơ sở kết luận hộ gia đình ông Đhiện đang còn nợ Ngân hàng chính sách xã hội Việt N– phòng giao dịch thị xã Nghi S như nội dung đơn khởi kiện là đúng.
Xét về hình thức cũng như nội dung của các Hợp đồng vay vốn đảm bảo đúng về hình thức cũng như nội dung hợp đồng đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật về hoạt động của Ngân hàng, đúng trình tự, thủ tục, cơ chế tín dụng hiện hành, những người tham gia giao dịch trong các hợp đồng nói trên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên hoàn toàn tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng do hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ cố ý vi phạm trả nợ nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ trả nợ là hoàn toàn có cơ sở và đúng pháp luật. Vì vậy căn cứ vào các Điều 463, 466 BLDS chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nlà đúng theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/HĐTP TANDTC, ngày 11/01/2019 quy định: kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Xét về quan điểm của Đại diện VKS phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/HĐTP TANDTC, ngày 11/01/2019; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án và điểm b tiểu mục 1.3 mục 1 phần 2 Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc Hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ phải trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, chi nhánh Thanh Hóa – Phòng giao dịch thị xã Nghi Sơn số tiền gốc: 37 triệu đồng và tiền lãi tính đến ngày 25/7/2022 là: 1.112.279đ và tiếp tục phải trả lãi phát sinh từ ngày 26/7/2022 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ gốc trên theo Hợp đồng vay vốn số7086022474, ngày 14/3/2018.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.
3. Về án phí: Hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đ phải nộp 1.905.000đ tiền án phí dân sự có giá ngạch.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt Nguyên đơn, vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Cúc |