- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng T - Nguyễn Đình H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/DS-ST Ngày: 23-3-2022 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Xuân;
2. Ông Nguyễn Văn Vỵ.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thái Vũ - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phương Hồng, Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, số 60 Nguyễn Huệ, thành phố Huế xét xử công khai vụ án thụ lý số: 269/2021/TLST- DS ngày 14 tháng 10 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-DS ngày 08/02/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2022/QĐST-DS ngày 25/02/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng T;
Địa chỉ: 266 – 268 đường N, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Bảo Quốc V; Địa chỉ: 126 đường N, phường P, thành phố H (theo văn bản ủy quyền số 27/2022/GUQ-CNTTH ngày 04/01/2022). Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1995.
Nơi ĐKHKTT: Số 256 đường C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chỗ ở hiện nay: 127 đường N, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 22/12/2018 giữa Ngân hàng T và anh Nguyễn Đình H có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng), hạn mức 30.000.000đ với mục đích tiêu dùng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, anh Nguyễn Đình H đã thực hiện các giao dịch với tổng cộng số tiền 74.092.204đ, đã thanh toán 58.979.613đ (trong đó tiền lãi và các loại phí từ ngày kích hoạt đến ngày 22/12/2021 là: 18.893.993đ, số tiền giao dịch là: 40.085.620. Do anh H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/3/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 23/3/2022, anh H còn nợ tổng cộng 51.424.930đ (nợ gốc: 34.006.584đ, nợ lãi: 17.418.346đ). Ngân hàng T yêu cầu anh Nguyễn Đình H phải trả cho ngân hàng toàn bộ số tiền nói trên và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 24/3/2022 cho đến khi trả hết nợ.
Phía bị đơn – anh Nguyễn Đình H: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần giao nhận trực tiếp giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh H nhưng anh H không đến làm việc nên Tòa án không lấy được lời khai, cũng như công khai chứng cứ và hòa giải được.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế có ý kiến:
[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn anh Nguyễn Đình H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Nguyễn Đình H phải trả cho Ngân hàng T số tiền 51.424.930đ (nợ gốc: 34.006.584đ, nợ lãi: 17.418.346đ).
Ngoài ra, kể từ ngày 24/3/2022, anh Nguyễn Đình H phải chịu số tiền lãi trên số tiền còn nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.
Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật; trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Nguyễn Đình H đến Tòa án để làm việc nhưng anh H không đến. Toà án đã triệu tập hợp lệ anh H đến tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng anh H vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được ký kết giữa Ngân hàng T và anh Nguyễn Đình H là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, nên có hiệu lực thi hành đối với các bên. Việc anh H không trả nợ cho ngân hàng như thỏa thuận tại hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
Về số tiền lãi quá hạn, theo quy định của pháp luật và thỏa thuận tại phụ lục hợp đồng, mức lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn của hợp đồng tín dụng. Việc Ngân hàng T tính số tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ chưa thanh toán là đúng quy định của pháp luật.
Do đó, Ngân hàng T khởi kiện buộc anh Nguyễn Đình H phải trả số tiền còn nợ 51.424.930đ (nợ gốc: 34.006.584đ, nợ lãi: 17.418.346đ) là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Ngoài ra, kể từ ngày 24/3/2022, anh Nguyễn Đình H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Về án phí:
- Anh Nguyễn Đình H phải chịu 51.424.930đ x 5% = 2.571.000đ (làm tròn).
Trả lại cho Ngân hàng T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 941.000đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000596 ngày 13/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 274, Điều 280 và khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Nguyễn Đình H phải trả cho Ngân hàng T số tiền 51.424.930đ (nợ gốc: 34.006.584đ, nợ lãi: 17.418.346đ).
Kể từ ngày 24/3/2022, anh Nguyễn Đình H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
2. Về án phí sơ thẩm:
- Anh Nguyễn Đình H phải chịu: 2.571.000đ.
Trả lại cho Ngân hàng T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 941.000đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000596 ngày 13/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi Hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT Huế; - VKSND TP Huế; - Chi cục THADS TP Huế; - Các đương sự; - Lưu HSVA; - Lưu dán án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Tú |