- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Giống C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? sự: Tuyên bố bị cáo Vàng Giống C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS, TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 08/2021/HSST Ngày: 15/11/2021 |
HUYỆN MS Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Hữu Hưởng 2. Ông Giàng A Lợ - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hạnh - Kiểm sát viên. Ngày 15 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo: Vàng Giống C, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1969 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Bản HP, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Vàng Dúa D sinh năm 1951 và bà Vừ Thị X (đã chết). Bị cáo có vợ Giàng Thị Đ, sinh năm 1973, trú tại bản HP, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 125/2007/HSST ngày 28/9/2007, Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Vàng Giống C 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bị cáo đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2021 đến ngày 06/6/2021. Tiếp tục tạm giam từ ngày 10/6/2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Giàng Thị Đ sinh năm 1973, địa chỉ: Bản HP, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La. Có mặt. - Người phiên dịch cho bà Giàng Thị Đ: Ông Và A Trịa – Chuyên viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện MS. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 ngày 20/5/2021 Vàng Giống C mang theo 5.000.000 VNĐ đi từ nhà tại bản HP, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La đến bản NP, xã CN,
MS, Sơn La để tìm mua hồng phiến về sử dụng. C gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) mua 5.000.000VNĐ được 02 túi nilon (01 túi nilon màu xanh, 01 túi nilon màu hồng) bên trong chứa các viên hồng phiến. C không kiểm đếm số lượng viên hồng phiến mua được. Sau đó, C đi bộ về nhà cất giấu số ma túy mua được vào giường ngủ để sử dụng dần. Từ ngày 20/5 đến ngày 28/5/2021 C đã sử dụng một số viên hồng phiến trong 02 túi nilon mua được (không nhớ số lượng cụ thể). Ngày 28/5/2021, Tổ công tác Công an huyện MS phối hợp với Công an xã CN đến làm nhiệm vụ quản lý người nghiện, nghi nghiện ma túy tại bản HP. Khi đến nhà C, C đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác 02 túi ma túy gồm 230 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 24,14 gam. Kết luận giám định số 4678/C09-TT2 ngày 06/6/2021 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận số vật chứng thu giữ của Vàng Giống C là chất ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng 24,14 gam. Tại bản Cáo trạng số: 85/CT-VKSMS ngày 25/10/2021C Viện kiểm sát nhân dân huyện MS truy tố bị cáo Vàng Giống C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249C Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Giống C từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy Vỏ phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong một phong bì do Công an huyện MS phát hành; Vỏ phong bì cũ gửi giám định được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành; 23,58 gam mẫu viên nén màu hồng và chất bột màu hồng đựng trong túi nilon màu xanh, màu hồng kí hiệu A và vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì do Viện khoa học hình sự Bộ công an phát hành. Trả lại cho bà Giàng Thị Đ số tiền 2.500.000 VNĐ. NHẬN ĐỊNHC TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xửC Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện MS đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy địnhC pháp luật. [2] Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện MS lập vào hồi 07 giờ 20 phút ngày 28/5/2021 đối với bị cáo Vàng Giống Của cùng toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 181 viên hồng phiến và 01 túi nilon màu hồng bên trong chứa 49 viên hồng phiến, bị cáo thừa nhận là chất ma túy có tổng khối lượng là 24,14 gam.
Tại bản kết luận giám định số 4678/C09-TT2 ngày 06/6/2021C Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: - Mẫu các viên nén màu hồng, trên một mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY” trong túi nilon màu xanh gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng mẫu là 18,89 gam; - Mẫu các viên nén màu hồng, trên một mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY” trong túi nilon màu hồng một mặt có ký hiệu “A” gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; tổng khối lượng mẫu là 5,25 gam. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, nên đã mang theo 5.000.000đ đi mua được 02 gói ma túy của một người đàn ông không biết tên tuổi với mục đích để sử dụng cho bản thân là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vàng Giống C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. [3] Xét tính chất vụ án: Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua ma túy cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/5/2021 cho đến ngày 06/6/2021, đến ngày 10/6/2021 bị bắt lại cho đến nay. Khi lượng hình cần xem xét khấu trừ thời gian tạm giữ vào thời gian chấp hành hình phạt là 09 ngày. Về đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị xử lý vật chứng là đảm bảo đúng quy định của pháp luật nhưng xét đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù là quá thấp so với tổng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 24,14gam. Mặc dù bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cần cân nhắc mức hình phạt cao hơn mức hình phạt do Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo để đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. [4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo. [5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) tại bản NP, xã CN, MS, Sơn La. Việc mua bán trao đổi giữa hai bên không có người biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác để
điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về toàn bộ khối lượng Methamphetamine thu giữ trong vụ án. [6] Vật chứng vụ án: Đối với 24,14 gam Methamphetamine sau khi trích rút làm mẫu giám định còn lại 18,75 gam mẫu viên nén màu hồng (trên mặt mỗi viên đều có kí hiệu “WY”) và chất bột màu hồng đựng trong túi nilon màu xanh; 4,83 gam mẫu viên nén màu hồng (trên mặt mỗi viên đều có kí hiệu “WY”) và chất bột màu hồng đựng trong túi nilon màu hồng kí hiệu A; vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong một phong bì do Viện khoa học hình sự Bộ Công an phát hành. Xét là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, sử dụng và tàng trữ trên thị trường, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong trong một phong bì do Công an huyện MS phát hành và 01 vỏ phong bì gửi tiền giám định được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 2.500.000 VNĐ thu giữ của bị cáo Vàng Giống C, tại phiên tòa bị cáo Vàng Giống C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xác định là tiền do gia đình bị cáo lao động mà có, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần trả lại vợ bị cáo là Giàng Thị Đ quản lý sử dụng. [7] Về các vấn đề khác: Về quyền bào chữa của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị cáo, người liên quan Giàng Thị Đ là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý miễn phí nhưng tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và bà Đ không có yêu cầu nên các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ thông tin cho Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước biết và không chỉ định người bào chữa. [8] Án phí: Bị cáo Vàng Giống C là dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, thuộc xã vùng ba, cần áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12C nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 04 năm 2016C Ủy ban thường vụ Quốc Hội để miễn án phí cho bị cáo Vàng Giống C. Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Vàng Giống C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Vàng Giống C 08 (Tám) năm tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 28/5/2021 đến ngày 06/6/2021), thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành tiếp là 07 năm 11 tháng 21 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 6 năm 2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vàng Giống C. 2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - Tịch thu tiêu hủy 23,58 gam mẫu viên nén màu hồng và chất bột màu hồng (Methamphetamine) đựng trong túi nilon màu xanh, màu hồng kí hiệu A;
Vỏ phong bì được niêm phong trong một phong bì do Viện khoa học hình sự Bộ Công an phát hành. - Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện MS phát hành. - Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì cũ gửi giám định được niêm phong trong 01 phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành. - Trả lại cho bà Giàng Thị Đ số tiền 2.500.000 VNĐ. 3. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTV- QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016C Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Giống C. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện MS, tỉnh Sơn La; - THADS huyện MS, tỉnh Sơn La; - Công an huyện MS, tỉnh Sơn La; - THA huyện MS; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Người liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Tráng A Tếnh |