- Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. - phạm tội tàng trữ trái phép ch…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Danh V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 08/2021/HS-ST Ngày: 30/3/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Dũng
Ông Nguyễn Văn Đoạt
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông V Trần Tiến
- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2022. Tại trụ sở TAND huyện H, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HS ngày 25/02/2022 và Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 02/2022/TB-TA ngày 16/3/2022 đối với bị cáo:
Danh V, sinh ngày: 14/02/1998
Giới tính: Nam.
Nơi ĐKHKTT: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Khmer;
Tôn giáo: Đạo Phật.
Trình độ văn hóa: 3/12
Nghề nghiệp: Ngư phủ.
Họ và tên cha: Danh H (đã chết).
Họ và tên mẹ: Lâm Thị T – sinh năm: 1972.
Anh (chị) em ruột: gồm 04 người, lớn nhất sinh năm 1984, bị cáo là người con nhỏ nhất trong gia đình.
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2021 đến ngày 24/12/2021 được Viện kiểm sát nhân dân huyện H cho gia đình bảo lĩnh chờ xử lý cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Danh V là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng tháng 4 năm 2021, Danh V đi ngư phủ ở Cà Mau có quen biết với một người thanh niên đi ghe chung tên K. K nói có nhà ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (V không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của K). V hỏi K có biết người nào ở thành phố Rạch Giá bán ma túy đá hay không. K nói có biết và cho V số điện thoại của người bán ma túy. Khi ghe cập cảng ở Cà Mau để bán cá, V lên bờ chơi thì bị người khác dùng dao chém gây thương tích. Chủ ghe cho V về nhà điều trị thương tích. Khi vết thương đã được điều trị xong, do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nên V không đi ngư phủ mà tiếp tục ở nhà tại Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Đến khoảng 17 giờ ngày 02/8/2021, V gọi điện vào số điện thoại mà K đã cho V trước đó để hỏi mua trái phép chất ma túy. V đã hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì người nghe điện thoại đồng ý bán và hướng dẫn V đến khu vực chùa Phật Lớn, thuộc phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá để giao dịch. Do không có xe nên V đã gọi điện cho bạn tên T (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) để nhờ T chở đi đến điểm hẹn. V nói với T đến thành phố Rạch Giá trả tiền cho người khác thì T đồng ý chở V đi. Sau đó, T điều khiển xe mô tô loại Sirius chở V đến khu vực chùa Phật Lớn. V kêu T đậu xe ở lề đường đợi còn V đi bộ khoảng 100 mét rồi vào hẻm. Lúc này có một thanh niên (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) đứng đợi sẵn. Khi gặp V, người thanh niên này hỏi V có phải đã hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá hay không. V trả lời đúng là V đã hỏi mua ma túy đá và lấy 200.000 đồng giao dịch lấy 01 gói ma túy đá để trong bao thuốc lá hiệu Hero từ người thanh niên này. V cất giấu gói ma túy đá vào túi quần bên phải và quay lại chỗ T đậu xe. Sau đó, T điều khiển xe chở V về nhà V rồi chạy xe đi công việc.
Đến khoảng 20 giờ ngày 02/8/2021, V gọi điện rủ bạn tên là Ong Thanh P đến nhà V để cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì P đồng ý. Khi đến nhà V, P thấy V ở nhà một mình nên nói với V để P rủ thêm bạn của P tên Nguyễn Minh N đến cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì V đồng ý. P gọi điện thoại rủ N đến còn V chuẩn bị dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 30 phút sau, N đến, sau đó 03 người cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Trong khi đang sử dụng ma túy, N lấy 100.000 đồng đưa cho V và nói để N hùn với V 100.000 đồng. V lấy 100.000 đồng cất vào túi quần rồi cả 03 tiếp tục sử dụng chất ma túy. Sau đó, lực lượng Công an đã phát hiện bắt quả tang V, P, Nhụt cùng với tang vật và số tiền 100.000 đồng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Danh V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại bản kết luận giám định số 786/KL-KTHS ngày 06/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang đã kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất bên trong 01 gói nylon được niêm P gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,152 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 37/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-HĐ ngày 20/01/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Danh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Danh V về tội danh và điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Danh V mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù giam.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước số tiền 100.000 đồng hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện H theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/12/2021.
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 gói nilon trong suốt được hàn kín, 01 đầu có rãnh gài kích thước 2,5 cm x 2,5 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất; 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màn hình bị nứt, màu xanh đen không rõ nhãn hiệu, không sử dụng được; 01 chai nhựa màu trắng trong suốt cao 09 cm, đường kính 04 cm, có nặp đậy màu trắng, trên nắp có gắn 02 ống: (01 ống bằng thủy tinh dài 14 cm, đường kính 0,5 cm có nối ống hút sọc trắng xanh dài 07 cm, đường kính 0,5 cm và 01 ống hút màu sọc trắng đỏ dài 17 cm, đường kính 0,5 cm); 01 hột quẹt ga tự chế không rõ nhãn hiệu dài 10,3 cm, rộng 02 cm; 01 hột quẹt ga màu xanh có ghi chữ TANAKA dài 7,5 cm, rộng 02 cm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Bị cáo có ý kiến: Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiêm hiện trường, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 02/8/2021 tại ấp Hưng Giang, xã Mỹ Lâm, huyện H, tỉnh Kiên Giang, Danh V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,152 gam chất ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của Dah V đã phạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo: Ma túy là một loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy nhà nước ta nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt sử dụng trái phép các chất ma túy, nếu ai vi phạm một trong các quy định trên, gây hậu quả nghiêm trọng đều bị pháp luật trừng trị và xử lý. Bị cáo Danh V nhận thức được điều đó, song để phục vụ cho nhu cầu nghiện của bản thân, bị cáo bất chấp sự trừng phạt của pháp luật. Bị cáo Danh V đã mua ma túy của một người đàn ông tên K tại thành phố Rạch Giá nhằm mục đích mang về sử dụng, khi đang sử dụng cùng P và N thì bắt quả tang thu giữ trên người bị cáo 0,152gam chất ma túy. Hành vi này của bị cáo V là tàng trữ trái phép chất ma túy nên cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi của mình.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng đến T lực và sức khoẻ của con người.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về hình phạt bỏ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước số tiền 100.000 đồng hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện H theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/12/2021.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nilon trong suốt được hàn kín, 01 đầu có rãnh gài kích thước 2,5 cm x 2,5 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất; 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màn hình bị nứt, màu xanh đen không rõ nhãn hiệu, không sử dụng được; 01 chai nhựa màu trắng trong suốt cao 09 cm, đường kính 04 cm, có nắp đậy màu trắng, trên nắp có gắn 02 ống: (01 ống bằng thủy tinh dài 14 cm, đường kính 0,5 cm có nối ống hút sọc trắng xanh dài 07 cm, đường kính 0,5 cm và 01 ống hút màu sọc trắng đỏ dài 17 cm, đường kính 0,5 cm); 01 hột quẹt ga tự chế không rõ nhãn hiệu dài 10,3 cm, rộng 02 cm; 01 hột quẹt ga màu xanh có ghi chữ TANAKA dài 7,5 cm, rộng 02 cm.
[8] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Danh V phải chịu án hình sự theo quy định của pháp luật.
[10] Các vấn đề khác:
Đối với người thanh niên có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Danh V, quá trình điều tra chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Ong Thanh P, Nguyễn Minh N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Danh V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử Phạt: Bị cáo Danh V mức án 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án. Nhưng bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2021 đến 24/12/2021.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS;
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước số tiền 100.000 đồng hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện H theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/12/2021.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nilon trong suốt được hàn kín, 01 đầu có rãnh gài kích thước 2,5 cm x 2,5 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất; 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màn hình bị nứt, màu xanh đen không rõ nhãn hiệu, không sử dụng được; 01 chai nhựa màu trắng trong suốt cao 09 cm, đường kính 04 cm, có nặp đậy màu trắng, trên nắp có gắn 02 ống: (01 ống bằng thủy tinh dài 14 cm, đường kính 0,5 cm có nối ống hút sọc trắng xanh dài 07 cm, đường kính 0,5 cm và 01 ống hút màu sọc trắng đỏ dài 17 cm, đường kính 0,5 cm); 01 hột quẹt ga tự chế không rõ nhãn hiệu dài 10,3 cm, rộng 02 cm; 01 hột quẹt ga màu xanh có ghi chữ TANAKA dài 7,5 cm, rộng 02 cm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Danh V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi Nhận:
| - TAND Tỉnh KG; - VKS H.H; - Chi cục THADS H.H; - Công an H.H; - Sở Tư Pháp; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Quốc Chiến |