vanban.org

Bản án 08/2021/HS-ST — Hình sự

TAND thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 04/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lê Công Trình phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Công T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 13/03/2021 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lê Công Trình phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/HS-ST
Ngày: 04 - 06 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Minh Tiếp

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Thật

2. Ông Nguyễn Quốc Khương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quí, kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2021 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2021/HSST, ngày 13 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Công T, sinh ngày: 01/5/2001; Tên gọi khác: không; Đăng ký thường trú: Ấp 9, xã VV A, huyện LM, tỉnh HG; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T (còn sống) và bà Trần Thị Mỹ H (còn sống); Bị cáo có 02 anh, chị, em ruột; lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2002;

Tiền án: không

Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/03/2021 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thị xã Long Mỹ. Bị cáo tạm giam bị có mặt tại phiên toà

- Người làm chứng:

- Trương Gia B, sinh ngày: 03/6/2004

Người đại diện cho người làm chứng ông Trương Thanh C (là cha ruột Trương Gia B)

Địa chỉ: Khu vực 3, phường 3, thành phố VT, tỉnh HG (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực bến đò thuộc ấp 9, xã Vĩnh Viễn A, huyện LM, tỉnh HG có hai đối tượng nam điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66H2-4914 có biểu hiện nghi vấn nên vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 13/3/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LM kết hợp cùng Công an xã Vĩnh Viễn A tiến hành kiểm tra và bắt quả tang đối tượng Lê Công T và Trương Gia B, kiểm tra trong túi áo sơ mi của Lê Công T đang mặc trên người phát hiện một bịch nylon được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt nghi là ma túy đá. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản, niêm phong theo quy định và tạm giữ tang vật có liên quan (bút lục 01-02).

Tại Kết luận giám định số 25/KLGĐ-PC09(MT) ngày 16/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang kết luận mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,44740 gam, loại Methamphetamine (bút lục 38).

Quá trình điều tra xác định vào sáng ngày 13/3/2021, Lê Công T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66H2-4914 đi lên thành phố Cần Thơ thăm bà con đến khoảng 11 giờ cùng ngày Trình điều khiển xe về thành phố VT, tỉnh HG để tìm Ngh (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy đá để về sử dụng. Khi về tới thành phố VT, Trình điện thoại cho Ngh hỏi mua 600.000 đồng ma túy đá thì Ngh đồng ý. Sau đó, T ghé một quán cà phê dọc đường ở phường 4, thành phố VT đợi Nghĩa, một lát sau Ngh đi đến và đưa 01 bịch ma túy đá cho T, T trả cho Nghĩa 600.000 đồng rồi bỏ ma túy vào gói thuốc lá hiệu JET để trong túi áo sơ mi mặc trên người và đi về nhà ông nội ở xã Vĩnh Viễn A, huyện LM, tỉnh HG. Khi đến cầu chữ U thuộc phường 4, thành phố VT thì Trình gặp Trương Gia B đang uống cà phê, Bảo nhờ T chở về nhà dùm. Sau đó, T đưa xe cho B chạy, B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66H2-4914 chở T về nhà mình, trên đường đi T rủ Bảo về nhà ông nội ở ấp 9, xã Vĩnh Viễn A, huyện LM chơi thì B đồng ý, khi B và T vừa tới bến đò thuộc ấp 9, xã Vĩnh Viễn A thì bị lực lượng Công an huyện LM kiểm tra bắt quả tang.

Qua làm việc Lê Công T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình (bút lục 05-08, 13, 40-43).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ của Lê Công T gồm: 01 bịch nylon được hàn kín hai đầu bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt nghi là ma túy đá; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “JET”; 01 bóp da màu nâu đen; 14 bịch nylon màu trắng (loại nhỏ); 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen; 01 xe mô tô hiệu SADOKA màu xanh biển số 66H2-4914, số khung 002148, số máy 00002148; 01 hột quẹt gas màu vàng trên thân hột quẹt có in chữ “BIC” và tiền Việt Nam 696.500 đồng.

- Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ của Trương Gia B gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 2.000 đồng và 01 bóp da màu đen.

Xử lý vật chứng:

- Cơ quan CSĐT Công an huyện LM nhập kho vật chứng gồm (bút lục 47-48):

+ 01 phong bì chứa ma túy đá bằng giấy màu trắng hình chữ nhật được niêm phong có 04 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HG, số niêm phong 25/2021 ngày 16/3/2021 có chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương L (người chứng kiến) và Hồ Chí B (Cơ quan điều tra).

+ 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “JET”.

+ 01 bóp da màu nâu đen.

+ 14 bịch nylon màu trắng (loại nhỏ).

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen.

+ 01 xe mô tô hiệu SADOKA màu xanh biển số 66H2-4914, số khung 002148, số máy 00002148.

+ 01 hột quẹt gas màu vàng trên thân hột quẹt có in chữ “BIC”.

+ Tiền Việt Nam 696.500 đồng.

- Cơ quan điều tra đã trả lại cho Trương Gia B gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 2.000 đồng và 01 bóp da màu đen do không liên quan đến vụ án (bút lục 49).

Tại cáo trạng số 12/CT-VKS-HLM ngày 12/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ đã quyết định truy tố bị cáo Lê Công T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ quyền công tố trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đồng thời đánh giá phân tích về tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Công T từ 12 tháng đến 18 tháng tù giam, thời hạn phạt tù tính từ ngày 13 tháng 3 năm 2021.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cao có liên quan đến vụ án.

Trả lại cho bị cáo số tiền Việt Nam 696.500đ và 01 xe mô tô hiệu SADOKA màu xanh biển số 66H2-4914, số khung 002148, số máy 00002148.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết ăn năn, hối hận mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện LM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện LM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự; bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan và người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 13/3/2021 tại khu vực bến đò thuộc ấp 9, xã Vĩnh Viễn A, huyện LM, tỉnh HG Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LM kết hợp cùng Công an xã Vĩnh Viễn A tiến hành kiểm tra và bắt quả tang Lê Công T có hành vi cất giấu 01 bịch nylon được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy đá để trong túi áo sơ mi đang mặc trên người nhằm mục đích mang về nhà sử dụng. Tại Kết luận giám định số 25/KLGĐ-PC09(MT) ngày 16/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HG kết luận mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,44740 gam, loại Methamphetamine

Đối chiếu với quy định tại tiểu mục 3.1 mục 3 phần II Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII các tội phạm về ma tuý. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện LM truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bởi lẽ, bị cáo có hành vi mua ma túy cất giấu trong người di chuyển trên đường về thì bị bắt quả tang, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà chứng minh đươc bị cáo có mua ma túy cất giấu trong người không nhằm mục đích đi mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy mà mục đích chính tang trữ, cất giấu để nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rất rõ việc tang trữ trái phép chất ma tuý để nhằm mục đích sử dụng là xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã gây ra biết bao hệ lụy cho chính bản thân, gia đình của bị cáo và làm ảnh hưởng xấu đến xã hội, mất an ninh trật tự tại địa phương là tệ nạn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, gia đình có công với cách mạng đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51, đồng thời vận dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy những vật chứng là hàng cấm tàng trữ, lưu hành; Trả lại vật chứng không liên quan đến vụ án thuộc sở hữu của bị cáo.

. Các vấn đề khác: Đối với người tên Ngh là người bán ma túy cho bị cáo, nhưng qua xác minh trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa không xác định được địa chỉ cụ thể, đi đâu không rõ, kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với Trương Gia B tuy không biết việc tàng trữ chất ma tuý của bị cáo nhưng quá trình bắt quả tang tiến hành tets nhanh kết quả Trương Gia B dương tính với chất ma tuý. Do đó cơ quan cảnh sát điều tra chuyển cho Uỷ ba nhân dân phường 3, thành phố VT, tỉnh HG giải quyết theo thủ tục hành chính là đúng thẩm quyền và có căn cứ.

. Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của kiểm sát viên tham gia phiên tòa và mức hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo, xử lý vật chứng và các vấn đề khác là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

Bị cáo Lê Công Trình phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Công T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 13/03/2021

.

Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Công T 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ các vật chứng gồm:

+ 01 phong bì chứa ma túy đá bằng giấy màu trắng hình chữ nhật được niêm phong có 04 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H G, số niêm phong 25/2021 ngày 16/3/2021 có chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương L (người chứng kiến) và Hồ Chí B (Cơ quan điều tra).

+ 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “JET”.

+ 01 bóp da màu nâu đen.

+ 14 bịch nylon màu trắng (loại nhỏ).

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen.

+ 01 hột quẹt gas màu vàng trên thân hột quẹt có in chữ “BIC”.

Trả lại cho bị cáo vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội gồm:

Số tiền Việt Nam 696.500đ và 01 xe mô tô hiệu SADOKA màu xanh biển số 66H2-4914, số khung 002148, số máy 00002148.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Lê Công Trình phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sư”.

Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/6/2021).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ