vanban.org

Bản án 08/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Tuyên án 30/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Trần Văn K (Trần Văn K1) 15 (Mười lăm) tháng tù.

Vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của các bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 bì thư số 1151/GĐKTHS có niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định; 01 xilanh nh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Trần Văn K (Trần Văn K1) 15 (Mười lăm) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 08/2021/HS-ST
Ngày 30 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thái Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hương

Ông Phạm Hồng Thái

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2021/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:

Trần Văn K (tức Trần Văn K1), sinh năm 1986 tại Nam Định.

Nơi ĐKHKTT: xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Đội 8, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh: Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L (đã chết); Vợ: Ninh Thị Đ, sinh năm 1989; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2020 đến ngày 30/11/2020 và bị tạm giam từ ngày 30/11/2020 đến nay. Có mặt

Người làm chứng: Anh Ngô Văn H; Anh Phạm Văn Đ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 21/11/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy và biết ở khu vực phà Đại Nội có người bán ma túy, Trần Văn K mang theo 200.000đ và 01 xilanh nhựa, 01 ống nước cất Novocain đi bộ ra cầu Cao đường 488B đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đến Phà Đại Nội. Sau đó, K đi bộ theo đường sông Ninh Cơ thấy một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi đang đứng một mình trên đường đê. Nghĩ người này bán ma túy K hỏi “Để em hai trăm nghìn trắng”. Hiểu ý K muốn mua ma túy người đàn ông này đồng ý bán và cầm tiền rồi đưa cho K 01 gói ma túy gói bằng giấy bạc mày trắng. K nhận gói ma túy rồi cất giấu vào vành trong của chiếc mũ lưỡi trai K đang đội rồi quay lại phà Đại Nội xin đi nhờ xe máy của người không quen biết về xã Trực Tuấn. Khoảng 8 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường tỉnh lộ 488B thuộc địa phận xã Trực Đạo thì K xuống xe và đi bộ vào đường dong thôn 16 ở giữa nghĩa địa Cồn Cả, xã Trực Đạo mục đích để tìm nơi sử dụng ma túy vừa mua thì bị lực lượng Công an huyện Trực Ninh và Công an xã Trực Đạo phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- Thu tại vành mũ lưỡi trai K đang đội có 01 gói nhỏ bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. K khai nhận là gói Heroin K vừa đi mua về sử dụng. Lực lượng công an đã niêm phong, ký hiệu M.

- 01 bơm kim tiêm; 01 Ống nước cất hiệu Novocain.

Bản giám định số 1151/GĐKTHS ngày 24/11/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định xác định: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong gói giấy bạc màu trắng được niêm phong trong bì thư, ký hiệu M, gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Heroine. Khối lượng mẫu M : 0.150 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 24 tháng 02 năm 2021 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử :

Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 15 - 18 tháng tù.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định, 01 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất Novocain, 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu trắng xanh đã cũ đã qua sử dụng.

Lời nói sau cùng bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố vụ án đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ trực tiếp xâm hại tới trật tự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý - là quan hệ xã hội thuộc khách thể đã được BLHS ghi nhận và bảo vệ.

Bị cáo thừa nhận vật chứng mà Cơ quan CSĐT đã thu giữ của bị cáo là ma túy (Heroin), bị cáo vừa mua, cất giấu nhằm mục đích sử dụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản ghi lời khai người làm chứng; Kết luận giám định.

Từ những chứng cứ nêu trên - HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroin) vào ngày 21/11/2020 của bị cáo Trần Văn K đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 BLHS.

Ma tuý là một trong nguyên nhân phát sinh tình hình tội phạm, trực tiếp ảnh hưởng tới sức khoẻ, kinh tế của bản thân, của gia đình bị cáo và của toàn xã hội, là tệ nạn đã và đang bị toàn xã hội lên án mạnh mẽ. Chính vì thế Nhà nước - thông qua hệ thống pháp luật đã nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là điều cần thiết.

Việc VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản Cáo trạng số 03/CT- VKS ngày 24 tháng 02 năm 2021, là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra, xét nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tương đối nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tác dụng giáo dục phòng ngừa chung tình hình tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc tới tình tiết: bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải - Để giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS để vừa thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: HĐXX thấy bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án là những vật nhà nước cấm lưu hành hoặc là không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo ở khu vực phà Đại Nội, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác minh được ai nên không đủ căn cứ để xử lý. Đối với những người đã cho K đi nhờ xe đều là người K không quen biết và những người này cũng không biết rõ mục đích của K đi nhờ xe để mua ma túy nên cơ quan điều tra không xác minh xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Tuyên bố bị cáo Trần Văn K (Trần Văn K1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt Trần Văn K (Trần Văn K1) 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 11 năm 2020.

2. Vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của các bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 bì thư số 1151/GĐKTHS có niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định; 01 xilanh nhựa, 01 ống nước cất Novocain, 01 mũ lưỡi trai màu trắng xanh đã cũ.(Vật chứng trên đây có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ngày 26 tháng 02 năm 2021).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Trần Văn K (Trần Văn K1) phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ