vanban.org

Bản án 08/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Tuyên án 23/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22 tháng 9 năm 2020. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 01 được niêm phong (vụ số 169/KLGĐ-PC09 (MT) ngày 02/8/2020) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn và các chữ ký ghi tên Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Ngọc Lan Hương - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 08/2021/HS-ST
Ngày: 23/02/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

-THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức.

2. Ông Phạm Quốc Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2021/HS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:

Phạm Thị Ngọc Lan H, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số 348/34, đường số 8, phường 11, quận Gò Vấp, tHnh phố Hồ Chí M. Nơi ở: ấp Vĩnh THnh, xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1964 và bà Trịnh Thị H (đã chết); Anh chị em ruột có 2 người, bị cáo là người thứ nhất; CH là Nguyễn Thiên Th, sinh năm 1983 và có 03 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giam từ ngày 22/9/2020 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Võ Văn THnh, sinh năm 1969. Nơi cư trú: ấp Vĩnh THnh, xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2/ Ông Trần Hoàng M, sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp Vĩnh THnh, xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 16/7/2020, Công an xã Định THnh, huyện Thoại Sơn, thực hiện kế hoạch tuần tra tuyến đường tỉnh lộ 943, khi đến khu vực ấp Hòa Thới, xã Định THnh phát hiện bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H điều khiển xe mô tô biển số 67M1-010.11 có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng tiến Hnh kiểm tra Hnh chính. Qua kiểm tra, phát hiện H cất giấu trong túi áo khoác bên trái một hộp nhựa, bên trong có một bọc nylon trong suốt có rãnh kéo viền màu đỏ chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Bị cáo H khai nhận đây là ma túy đá mua của Thọ (không rõ họ, địa chỉ) tại tHnh phố Long Xuyên, với giá 700.000 đồng mang về sử dụng.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 2.200.000 đồng; một áo khoác dài tay màu đen; 01 bộ sử dụng ma túy; 05 điện thoại di động; xe mô tô biển số 67M1-010.11 cùng các đồ vật có liên quan.

Tại phiếu xét nghiệm ngày 17/7/2020 của Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn, kết luận: Phạm Thị Ngọc Lan H dương tính với Methamphetamine.

Theo bản kết luận giám định số 169/KLGT-PC09 (MT) ngày 02/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2551 gam (không phẩy hai năm năm một gam).

Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKSTS, ngày 12/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H khai nhận toàn bộ Hnh vi phạm tội. Bị cáo biết Hnh vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn thực Hnh quyền công tố NH nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, Hnh vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về phần vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tính hợp pháp của các Hnh vi, quyết định tố tụng.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án này còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến Hnh xét xử vụ án.

Những chứng cứ xác định Hnh vi phạm tội của bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H thừa nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình, bị cáo khai nhận: Khoảng 21 giờ 45 ngày 16/7/2020, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 67M1-010.11 vào Thoại Sơn, khi đi đến khu vực ấp Hòa Thới, xã Định THnh, huyện Thoại Sơn thì bị Công an xã Định THnh, huyện Thoại Sơn kiểm tra phát hiện bị cáo cất giấu trong túi áo khoác bên trái một hộp nhựa, bên trong có 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh kéo viền màu đỏ chứa chất tinh thể màu trắng, số ma túy này bị cáo mua của một người tên Thọ tại tHnh phố Long Xuyên với giá 700.000 đồng về sử dụng. Căn cứ kết luận giám định đây là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,2551 gam. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận giám định khối lượng chất ma túy; ngoài ra nó còn phù hợp với các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của Hnh vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Hnh vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của NH nước mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân và có thể là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được rằng chất ma túy là rất độc hại, NH nước cấm tàng trữ, nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện Hnh vi phạm tội. Do vậy, khi lượng hình cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tặng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết như bị cáo xuất thân từ tHnh phần nhân dân lao động, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thật tH khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ được vật chứng gồm: Một phong bì số 01 được niêm phong (vụ số 169/KLGĐ-PC09 (MT) ngày 02/8/2020) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Huỳnh Văn Trường. Bên trong có mẫu M1 còn lại sau khi giám định. Một phong bì số 02 được niêm phong (vụ số 169/KLGĐ-PC09 (MT) ngày 02/8/2020) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Huỳnh Văn Trường. Bên trong có mẫu M2 là 01 chai Th tinh hình trụ trong suốt, có nắp đậy màu vàng bên trong chứa chất lỏng màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 hộp nhựa kích thước (4,7 x 6) cm, 04 kéo bằng kim loại, 01 hộp quẹt ga, 01 áo khoác dài tay màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F3 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Wiko màu vàng đen, 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA 1034, 01 điện thoại di động hiệu Model TA 1010, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám, 01 xe mô tô biển số 67M1-010.11, số tiền 2.200.000 đồng.

Các vật chứng này cần phân hóa ra để xử lý như sau:

- Đối với 01 phong bì số 01 được niêm phong (vụ số 169/KLGĐ-PC09 (MT) ngày 02/8/2020) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Huỳnh Văn Trường. Bên trong có mẫu M1 còn lại sau khi giám định. 01 phong bì số 02 được niêm phong (vụ số 169/KLGĐ-PC09 (MT) ngày 02/8/2020) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Huỳnh Văn Trường. Bên trong có mẫu M2 là 01 chai Th tinh hình trụ trong suốt, có nắp đậy màu vàng bên trong chứa chất lỏng màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 hộp nhựa kích thước (4,7 x 6) cm, 04 kéo bằng kim loại, 01 hộp quẹt ga, 01 áo khoác dài tay màu đen. Đây là vật chứng liên quan trực tiếp đến vụ án nên cần tuyên bố tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo F3 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Wiko màu vàng đen, 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA 1034, 01 điện thoại di động hiệu Model TA 1010, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám, số tiền 2.200.000 đồng. Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

- Đối với xe mô tô biển số 67M1-010.11 là của anh Trần Hoàng M cho bị cáo mượn dùng làm pH tiện đi lại, bị cáo sử dụng xe để mua ma túy sử dụng anh M không hay biết nên cần tuyên trả lại cho anh M.

Đối với người bán ma túy tên Thọ và Tiên; Huy là người cùng sử dụng ma túy với bị cáo nhưng do chưa xác định được đặc điểm, họ, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thoại Sơn tiếp tục xác M, làm rõ xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22 tháng 9 năm 2020.

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 01 được niêm phong (vụ số 169/KLGĐ-PC09 (MT) ngày 02/8/2020) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Huỳnh Văn Trường. Bên trong có mẫu M1 còn lại sau khi giám định. 01 phong bì số 02 được niêm phong (vụ số 169/KLGĐ-PC09 (MT) ngày 02/8/2020) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Huỳnh Văn Trường. Bên trong có mẫu M2 là 01 chai Th tinh hình trụ trong suốt, có nắp đậy màu vàng bên trong chứa chất lỏng màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 hộp nhựa kích thước (4,7 x 6) cm, 04 kéo bằng kim loại, 01 hộp quẹt ga, 01 áo khoác dài tay màu đen.

Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H 01 điện thoại di động hiệu Oppo F3 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Wiko màu vàng đen, 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA 1034, 01 điện thoại di động hiệu Model TA 1010, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám, số tiền 2.200.000 đồng.

Trả lại cho anh Trần Hoàng M 01 xe mô tô biển số 67M1-010.11.

(Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKSTS ngày 12 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Buộc bị cáo Phạm Thị Ngọc Lan H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết nảm án tại trụ sở UBND xã, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hnh án dân sự.

Cỡ chữ