- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HS-ST Ngày 29-01-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Diễn.
- Bà Nguyễn Thị Huề.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ , tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2021 đối với
Bị cáo: Nguyễn Văn C; Sinh ngày 06/5/1972.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Văn A1, sinh năm 1948, (Năm 1975 được tặng Huy chương Chiến sĩ giải phóng); Họ và tên mẹ: Phạm Thị T, sinh năm 1952; Vợ: Trịnh Thị L, sinh năm 1973 (đã ly hôn năm 2001); Vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1974; Có 01 con sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 53/HSST ngày 17/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng 08 ngày về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999. Bản án số 94/HSST ngày 07/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999 (Giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 02 triệu đồng). Tổng hợp với hình phạt buộc C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 4 tháng 04 ngày tù. Bị tạm giữ từ ngày 05/10/2020 đến ngày 08/10/2020 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Quỳnh Phụ . (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 05/10/2020, tại khu vực cầu T1 thuộc tổ 03, thị trấn Q1, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Quỳnh Phụ phối hợp với Công an thị trấn Q1 phát hiện Nguyễn Văn C đang đi bộ một mình có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu C dừng lại để kiểm tra thì C đã thả từ tay trái xuống đường 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Tổ công tác đã yêu cầu C nhặt bao thuốc lá đó lên cho vào túi quần bên phải phía trước đang mặc mang về trụ sở Công an thị trấn Q1 để làm việc. Tại đây, trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1972, trú tại tổ 06 cùng ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961, trú tại tổ 02, đều thị trấn Q1, huyện Q, C đã tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước giao nộp cho Tổ công tác 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng, bên trong đựng một gói giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng dạng cục. C khai nhận đó là gói Hêrôin C mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Cùng ngày tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của C tại Thôn Đ, xã A, huyện Q không phát hiện, thu giữ gì. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, C khai nhận bản thân nghiện chất ma túy, thường mua Hêrôin để sử dụng cho bản thân. Khoảng 09 giờ ngày 05/10/2020, C đi bộ từ nhà ra đường liên thôn, đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến xã A1, huyện Q với mục đích mua Hêrôin để sử dụng cho bản thân. Khi đến ngã tư thuộc thôn X, xã A1, C xuống xe, gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết, 01 gói Hêrôin với giá 100.000 đồng rồi giấu vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long, màu vàng. Sau đó đi nhờ xe của một người đàn ông khác, không quen biết, đến thị trấn Q1 rồi xuống xe, đi bộ tìm chỗ vắng để sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 361/KLGĐMT - PC09 ngày 06/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Vật chứng gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2572 gam (không phẩy hai nghìn năm trăm bẩy mươi hai gam). Heroine STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.”
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSQP ngày 18/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 05/10/2020 như đã nêu trong bản cáo trạng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch 01 thu gói ma túy để tiêu hủy. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng xã hội, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 10 giờ 15 phút ngày 05/10/2020 tại trụ Công an thị trấn Q1, huyện Q, tỉnh Thái Bình (Bút lục số: 01 - 02);
- Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu ngày 05/10/2020; Bản kết luận giám định số 361/KLGĐMT-PC09 ngày 06/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số: 05, 09);
- Bản tự khai và biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến (Bút lục từ số: 66 - 75);
Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 05/10/2020, tại khu vực Cầu T1, thuộc tổ 03, thị trấn Q1, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,2572 gam Hêrôin (không phẩy hai nghìn năm trăm bảy mươi hai gam), với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…………………………………………………………………………………………..
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…………………………………………………………………………………………….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện, xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” , coi thường pháp luật, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Vì vậy việc xét xử bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết và lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như tác dụng trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Xét tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có bố đẻ được tặng Huy chương Chiến sĩ giải phóng, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, có hai bản án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” .
Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải lên mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, hiện không có nghề nghiệp ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma tuý, bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết, tại khu vực xã A1, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra, xử lý
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 gói ma túy, xét thấy đây là vật chứng vụ án, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vì vậy cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lý lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2020.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy được niêm phong trong phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số 361/KLGĐMT - PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
“Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ ngày 18/12/2020 và hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý ”
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. .
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình; - Công an huyện Quỳnh Phụ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN MINH ĐỨC |