- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lò Văn G, Tẩn A M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HS - ST Ngày: 26/10/2021 |
NHÂN DANH
NƢ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Vư - Công tác Ủy ban mặt trận tổ quốc huyện Phong Thổ; Bà Thùng Thị Tâm - Công tác Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí M huyện Phong Thổ.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Ông Lê Sỹ Hiếu - Kiểm sát viên
Ngày 26/10/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2021/TLST - HS, ngày 11/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HS ngày 13/10/2021 đối với các bị cáo:
1. Lò Văn G (tên gọi khác: không), sinh ngày 15/9/2003; nơi sinh: huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: Bản Phai Cát, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn Dơm, sinh năm 1975 và bà Pờ Thị Day sinh năm: 1979; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/6/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Tẩn A M (tên gọi khác: không), sinh ngày 02/7/2003; nơi sinh: huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: Bản Ngài Trò, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tẩn A Vầy, sinh năm 1966 và bà Lý Lở Mẩy sinh năm: 1968; bị cáo chưa có vợ con; ; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/6/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lò Văn G: Chị Pờ Thị Day, sinh năm 1979 (mẹ đẻ bị cáo) có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Tẩn A M: Anh Tẩn A Vầy, sinh năm 1966 (bố đẻ bị cáo) có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Công Hưởng - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 13/6/2021 tại địa phận bản Má Tiển, xã bản Lang, huyện Phong Thổ công an huyện Phong Thổ phối hợp công an xã Khổng Lào, công an xã Mường So kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn G và Tẩn A M về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua lời khai của Lò Văn G và Tẩn A M thì khoảng 08 giờ sáng ngày 13/6/2021, Tẩn A M điều khiển xe máy của gia đình đến xã Khổng Lào để chơi. Khi đi đến bản Phai Cát, xã Khổng Lào thì M gặp Lò Văn G, qua nói chuyện thì G nói với M là G định đi đến khu vực xã Dào San đi tìm mua Heroine để sử dụng. Do M cũng sử dụng ma túy và không có tiền mua nên M đã xin đi cùng để được G cho ma túy sử dụng, G đồng ý. Sau đó, G điều khiển xe máy chở M đi đến nhà của Vàng A Chê, sinh năm 1982, nhà ở bản Tung Qua Lìn, xã Tung Qua Lìn, huyện Phong Thổ để mua ma túy.
Sau đó G chở Chê và M đi đến bản Xín Chải, xã Pa Vây Sử, huyện Phong Thổ để tìm mua Heroine, tại đây G và M đứng ở đường đợi, G đưa cho Vàng A Chê 500.000 đồng để Chê đi vào khu vực trong bản Xín Chải tìm mua Heroine. Khoảng 10 phút sau, Chê quay lại đưa cho G 01 gói Heroine, được gói bằng mảnh nilon màu trắng. Sau đó cả 3 người về nhà Chê, G và M chia số Heroine thành 10 gói nhỏ và gói bằng mảnh nilon màu xanh. G, M, Chê sử dụng hết một gói ngay tại nhà của Chê, còn 09 gói Heroine G đưa cho M cầm, cả hai sau đó đi về đến xã Mù Sang, huyện Phong Thổ thì M điều khiển xe máy chở G và G lại cầm 09 gói Heroine. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày khi cả hai đi đến địa phận bản Má Tiển, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ thì gặp tổ công tác Công an huyện Phong Thổ phối hợp với Công an xã Khổng Lào, Công an xã Mường So yêu cầu M và G dừng xe lại và G đã tự giác giao nộp 09 gói Heroine. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đã tiến hành mở niêm phong và cân tịnh 09 mẫu chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lò Văn G, Tẩn A M có khối lượng 0,32 gam. Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ 0,32 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục của G, M gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 491/GĐ-KTHS ngày 17/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “09 mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu từ M1 đến M9) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Heroine”.
01chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE, màu sơn trắng đen, BKS 25B1 - 346.89 thu giữ của Tẩn A M. Ngày 24/8/2021 cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Tẩn A Vầy.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong mặt trước của phong bì có ghi “Tang vật còn lại của vụ Lò Văn G, Tẩn A M” bên trong phong bì là các mảnh nilon màu xanh cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ.
Bản cáo trạng số: 74/CT - VKS ngày 11/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo Lò Văn G, Tẩn A M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, và các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét áp dụng chương người chưa thành niên phạm tội đối với các bị cáo để đảm bảo quyền lợi cho các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 91, 101- Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo Lò Văn G, Tẩn A M từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 - Bộ luật hình sự; Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mặt trước của phong bì có ghi “Tang vật còn lại của vụ Lò Văn G, Tẩn A M” bên trong phong bì là các mảnh nilon màu xanh cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ.
Đối với 01chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE, màu sơn trắng đen, BKS 25B1 - 346.89 Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ trao trả lại cho anh Tẩn A Vầy là đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249; khoản 6 Điều 91 - Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa và người đại diện hợp pháp cho các bị cáo bào chữa: Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần dẫn đến nghiện chất ma túy. Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 91, 101- Bộ luật hình sự. Đề nghị xem xét mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đối với các bị cáo.
Các bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm cũng không có ý kiến gì và nhất trí với bản cáo trạng, không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Cả hai bị cáo không có ý kiền gì và không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13/6/2021, tại địa phận bản Má Tiển, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Lò Văn G, Tẩn A M bị Công an huyện Phong Thổ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang có hành vi tàng trữ trái phép trên người 09 gói chất bột màu trắng được gói bằng mảnh nilon màu xanh. Kết quả giám định 09 gói chất bột màu trắng kết luận là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,32 gam. Như vậy G và M phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,32 gam Heroine.
Đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo là người nghiện chất ma túy nên các bị cáo mua Heroine về để sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác, khối lượng chất ma túy các bị cáo tàng trữ trái phép là 0,32 gam Heroine. Như vậy hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố các bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Cả hai bị cáo khi phạm tội tuổi đời còn rất trẻ là người chưa thành niên phạm tội, bị cáo G mới 17 tuổi 08 tháng 28 ngày, bị cáo M mới 17 tuổi 11 tháng 10 ngày. Xét các bị cáo ở độ tuổi chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, sự nhận thức hiểu biết về pháp luật chưa đầy đủ, do vậy Hội đồng xét xử xem xét áp dụng chương người chưa thành niên phạm tội để đảm bảo quyền lợi cho các bị cáo.
Đánh giá về vai trò đồng phạm thì HĐXX xét thấy các bị cáo không có sự phân công vai trò, đồng phạm giản đơn cùng chung ý chí mua ma túy về để sử dụng và khối lượng Heroine mà các bị cáo tàng trữ trái phép là 0,32 gam, do vậy các bị cáo chịu trách nhiệm hình sự chung về khối lượng ma túy mà các bị cáo tàng trữ trái phép. Vì vậy xét về mức hình phạt của cả hai bị cáo là như nhau.
Tại phiên tòa người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 91, 101 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp nhất đối với các bị cáo. Việc đề nghị về mức hình phạt mức thấp nhất của người bào chữa Hội đồng xét xử (HĐXX) sẽ xem xét chấp nhận một phần đề nghị của người bào chữa. HĐXX chấp nhận đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, là người chưa thành niên phạm tội, các bị cáo không tự giáo dục mình dẫn đến nghiện chất ma túy và thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cũng cần phải có một mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 249; khoản 6 Điều 91- Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong mặt trước của phong bì có ghi “Tang vật còn lại của vụ Lò Văn G, Tẩn A M” bên trong phong bì là các mảnh nilon màu xanh cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE, màu sơn trắng đen, BKS 25B1 - 346.89 mang tên anh Tẩn A Vầy. Xác định là tài sản hợp pháp của anh Vầy nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho anh Tẩn A Vầy là đúng quy định.
Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị cáo G khai nhờ Vàng A Chê, sinh năm 1982, nhà ở bản Tung Qua Lìn, xã Tung Qua Lìn, huyện Phong Thổ để mua Heroine cho bị cáo, tuy nhiên qua đối chất giữa các bị cáo G, M và Chê thì Chê không thừa nhận việc đi mua hộ Heroine cho G, M mặc dù đi cùng với G để mua Heroine và khảng định Chê không phải là người đã bán Heroine cho G, ngoài lời khai của G không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng M hành vi phạm tội của Vàng A Chê nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở khu vực thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số: 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc về phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, tại phiên tòa các bị cáo đã đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Lò Văn G, Tẩn A M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
1. Về hình phạt:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 90, 91, 98, 101- Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn G 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Xử phạt bị cáo Tẩn A M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.Thời hạn thi hành hình phạt tù của các bị cáo được tính từ ngày các bị cáo đi chấp hành án.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điều 47 - Bộ luật hình sự và điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mặt trước của phong bì có ghi “Tang vật còn lại của vụ Lò Văn G, Tẩn A M” bên trong phong bì là các mảnh nilon màu xanh cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2021 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 21; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng cho mỗi bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, đại diện hợp pháp cho các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh - VKS tỉnh, huyện - THA dân sự - Cơ quan THAHS,CQĐT - Các bị cáo - Người BC, Người ĐDHP - Sở Tư pháp - Lưu HS - TA . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒ Nguyễn Thị Phƣơng |