vanban.org

Bản án 08/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy tinh thể không màu có khối lượng 0,0968 gam tinh thể không màu, loại Methamphetamine; Trả lại cho bị cáo Lê Duy B 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen it 2161 đã qua sử dụng và 01 áo khoác màu xanh đen Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/HS-ST
Ngày: 02/02/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Văn Công Minh

2. Bà Trần Thị Bích Liên

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Hoàng Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Duy B , sinh năm 1997, tại tỉnh Bến Tre; Đăng ký HKTT: 7/2 ấp Phú Hòa, xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Lê Hồng S và bà Trương Thị H; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2020 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 13/10/2020, Lê Duy B đến bến xe Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người tên Chua (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 04 viên nén màu xanh là ma túy MDMA, 01 gói ma túy Ketamine giá 1.000.000đ. Sau khi mua ma túy, B đi về khu vực huyện Nhà Bè tìm nơi vắng người để sử dụng, khi đến khu vực trước Block D chung cư Sunrise Residence, tổ 9, ấp 5, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an huyện Nhà Bè tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác B đang mặc có 01 gói nylon, bên trong có 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu xanh và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. B khai đó là ma túy vừa mua, đang tìm nơi sử dụng. Lúc này khoảng 00 giờ 10 phút ngày 14/10/2020.

Kết luận giám định số 1801 ngày 21/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

“04 viên nén màu xanh được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,4608g, loại MDMA;

Tinh thể không màu mẫu m2 cần giám định là ma túy thể rắn, khối lượng 1,9680g, loại Ketamine”

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-NB ngày 29/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Lê Duy B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Duy B từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại, sau khi đã lấy mẫu giám định; Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động.

Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố Tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 14/10/2020, tại khu vực phía trước Block D, chung cư Sunrise Residence, tổ 9, ấp 5, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Duy B đang có hành vi cất giữ 1,4608g ma túy MDMA và 1,9680g ma túy Ketamine để sử dụng thì Công an huyện Nhà Bè phát hiện bắt quả tang. Bị cáo có hành vi tàng trữ 02 chất ma túy không cùng một điểm quy địnhtại Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ để tính tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy Lê Duy B tàng trữ.

Cụ thể: 1,4608g MDMA : 5g x 100% = 29,216%

1,9680g Ketamine : 20 x 100% = 9,84%

Tổng tỷ lệ phần trăm các chất ma túy cộng lại là 29,216%+ 9,84% = 39,056% (dưới 100%). Như vậy, Lê Duy B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất giữ ma túy để sử dụng bị nhà nước nghiêm cấm nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu giám định, khối lượng còn lại là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy;

01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, bị cáo sử dụng liên lạc mua, bán ma túy, là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

01 áo khoác màu xanh không phải là vật chứng của vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

01 chiếc xe mô tô biển số 63B3-044.03 bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại mua ma túy nhưng đây là xe của chị Trương Thị H (mẹ của bị cáo) cho bị cáo mượn, bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy chị Hằng không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đã trả lại xe cho chị H.

Đối với người bán ma túy cho Lê Duy B do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Duy B 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 03 viên nén màu xanh (m1) có tổng khối lượng 1,1073g và tinh thể không màu (m2) có tổng khối lượng 1,6961g.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, Model A1429, Imei:990002277114540 đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Lê Duy B 01 áo khoác màu xanh đã qua sử dụng.

(Toàn bộ vật chứng có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo phiếu nhập kho số 2021-NK11 ngày 22 tháng 12 năm 2020)

Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Duy B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TPHCM;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Nhà Bè;

- VKSND TPHCM;

- Công an huyện Nhà Bè;

- Chi cục THADS huyện Nhà Bè;

- Thi hành án HS huyện Nhà Bè;

- Sở Tư pháp TP HCM;

- Bị cáo;

Phạm Thị Thúy

- Trại tạm giam Chí Hòa;

- Lưu: VP, hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN NHÀ BÈ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 04/2021/HS-ST Ngày: 26/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Xuân

2. Bà Trần Thị Bích Liên

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Hoàng Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Lê Huỳnh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Tiến Ân, sinh năm 2001, tại tỉnh Long An; Đăng ký HKTT: Ấp 5, xã Phước Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Phạm Văn Chơn và bà Nguyễn Thị Kim Hương; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2020 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 11/10/2020, Lê Duy B điều khiển xe mô tô biển số 54M5-2508 đến khu vực trước cổng khu dân cư Phước Đông, xã Phước Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An gặp một người thanh niên tên Hiếu không rõ nhân thân, lai lịch mua 01 gói ma túy giá 300.000đ. Sau khi mua ma túy, Ân cất trong túi áo khoác đang mặc, đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 12/10/2020, Ân điều khiển xe đến trước nhà 1023 Lê Văn Lương, ấp 3, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè đứng đợi bạn thì bị Công an huyện Nhà Bè phát hiện, bắt quả tang Ân đang cất giữ 01 túi nylon chứa tinh thể không màu, Ân khai là ma túy tổng hợp.

Kết luận giám định số 1775 ngày 20/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Tinh thể không màu trong một gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký Lê Duy B và hình dấu Công an xã Phước Kiển là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1555 gam, loại Methamphetamine”.

Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-NB ngày 25/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Lê Duy B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Duy B mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,0968 gam ma túy thể rắn, loại Methamphetamine;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, 01 áo khoác

Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh B quản chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338 và 01 biển số xe 54M5-2508. Hết thời hạn do Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đăng thông báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với chiếc xe mô tô trên và tịch thu tiêu hủy đối với biển số xe trên theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự.

Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố Tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 12/10/2020, Công an huyện Nhà Bè tuần tra trên tuyến đường Lê Văn Lương, khi đến trước số nhà 1023 Lê Văn Lương, ấp 3, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, qua kiểm tra Lê Duy B thì phát hiện Lê Duy B đang cất giữ 01 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1555 gam mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất giữ ma túy để sử dụng bị nhà nước nghiêm cấm nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu giám định, khối lượng còn lại 0,0968 gam là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy;

01 chiếc điện thoại di động hiệu Itel màu đen và 01 áo khoác màu xanh đen thu giữ của bị cáo không phải là vật chứng của vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338 và 01 biển số xe 54M5-2508, bị cáo khai mua của một người tên Sơn không rõ lai lịch, địa chỉ nhưng do chưa trả tiền nên Sơn không giao giấy tờ xe. Công an huyện Nhà Bè đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch người tên Sơn.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè tiến hành xác minh biển số xe mô tô 54M5-2508. Qua xác minh cho kết quả: chiếc xe có biển số 54M5-2508 có số khung MA1-116710, số máy FMH-116710 do chị Lê Thị Kim Ngân đứng tên chủ sở hữu. Chị Ngân khai mua chiếc xe này vào khoảng năm 2010, nhãn hiệu chiếc xe là WAMEM, sau khi mua khoảng 5 tháng thì bán lại cho một người không rõ nhân thân, lai lịch. Khi bán xe chị Ngân không làm thủ tục mua bán xe.

Do không xác định được chủ sở hữu chiếc xe Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338 và 01 biển số xe 54M5-2508 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã đăng thông báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Vì vậy, cần giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè B quản chiếc xe mô tô và biển số xe nói trên. Hết thời hạn do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đăng thông báo theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với chiếc xe mô tô trên và tịch thu tiêu hủy biển số xe trên.

Đối với người tên Hiếu bán ma túy cho Ân do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với người cho Tý mượn điện thoại để liên lạc mua ma túy do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Duy B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy tinh thể không màu có khối lượng 0,0968 gam, loại Methamphetamine;

Trả lại cho bị cáo Lê Duy B 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen it 2161 đã qua sử dụng và 01 áo khoác màu xanh đen.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh B quản chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338 và biển số xe mô tô 54M5-2508. Hết thời hạn do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đăng thông báo theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338, tịch thu tiêu hủy biển số xe 54M5-2508. (Toàn bộ vật chứng có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo phiếu nhập kho số 2021-NK09 ngày 15 tháng 12 năm 2020)

Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Duy B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN NHÀ BÈ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 26 tháng 01 năm 2021

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồ có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Xuân và bà Trần Thị Bích Liên

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lyus số 78/2020/TLST-HS ngày 29/12/2020 đối với:

Bị cáo: Phạm Tiến Ân, sinh năm 2001, tại tỉnh Long An;

Căn cứ Điều 299 và Điều 236 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về tội danh: Bị cáo Lê Duy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý. Tỷ lệ 100%

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Duy B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2020.

Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý. Tỷ lệ 100%

3. Về các vấn đề khác:

3.1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy tinh thể không màu có khối lượng 0,0968 gam tinh thể không màu, loại Methamphetamine;

Trả lại cho bị cáo Lê Duy B 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen it 2161 đã qua sử dụng và 01 áo khoác màu xanh đen

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh B quản chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338 và biển số xe mô tô 54M5-2508. Hết thời hạn do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đăng thông báo theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338, tịch thu tiêu hủy biển số xe 54M5-2508. (Toàn bộ vật chứng có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo phiếu nhập kho số 2021-NK09 ngày 15 tháng 12 năm 2020)

3.2. Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Duy B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3.3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý. Tỷ lệ 100%

4. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm B thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý. Tỷ lệ 100%

Nghị án kết thúc vào hồi 11 giờ 15 phút cùng ngày

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN NHÀ BÈ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 04/2021/HS-ST Ngày: 26/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Xuân

2. Bà Trần Thị Kim Liên

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Hoàng Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Lê Huỳnh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Tiến Ân, sinh năm 2001, tại tỉnh Long An; Đăng ký HKTT: Ấp 5, xã Phước Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Phạm Văn Chơn và bà Nguyễn Thị Kim Hương; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2020 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 11/10/2020, Lê Duy B điều khiển xe mô tô biển số 54M5-2508 đến khu vực trước cổng khu dân cư Phước Đông, xã Phước Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An gặp một người thanh niên tên Hiếu không rõ nhân thân, lai lịch mua 01 gói ma túy giá 300.000đ. Sau khi mua ma túy, Ân cất trong túi áo khoác đang mặc, đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 12/10/2020, Ân điều khiển xe đến trước nhà 1023 Lê Văn Lương, ấp 3, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè đứng đợi bạn thì bị Công an huyện Nhà Bè phát hiện bắt quả tang Ân đang cất giữ 01 túi nylon chứa tinh thể không màu, Ân khai là ma túy tổng hợp.

Kết luận giám định số 1775 ngày 20/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Tinh thể không màu trong một gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký Lê Duy B và hình dấu Công an xã Phước Kiển là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1555 gam, loại Methamphetamine”.

Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-NB ngày 25/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Lê Duy B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Duy B mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,0968 gam ma túy thể rắn, loại Methamphetamine;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, 01 áo khoác

Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh B quản chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338 và 01 biển số xe 54M5-2508. Hết thời hạn do Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đăng thông báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với chiếc xe mô tô trên và tịch thu tiêu hủy đối với biển số xe trên theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự.

Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố Tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 12/10/2020, Công an huyện Nhà Bè tuần tra trên tuyến đường Lê Văn Lương, khi đến trước số nhà 1023 Lê Văn Lương, ấp 3, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, qua kiểm tra Lê Duy B thì phát hiện Lê Duy B đang cất giữ 01 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1555 gam mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất giữ ma túy để sử dụng bị nhà nước nghiêm cấm nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu giám định, khối lượng còn lại 0,0968 gam là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy;

01 chiếc điện thoại di động hiệu Itel màu đen và 01 áo khoác màu xanh đen thu giữ của bị cáo không phải là vật chứng của vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338 và 01 biển số xe 54M5-2508, bị cáo khai mua của một người tên Sơn không rõ lai lịch, địa chỉ nhưng do chưa trả tiền nên Sơn không giao giấy tờ xe. Công an huyện Nhà Bè đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch người tên Sơn.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè tiến hành xác minh biển số xe mô tô 54M5-2508 thì cho kết quả: đối với chiếc xe có biển số 54M5-2508 có số khung MA1-116710, số máy FMH-116710 do chị Lê Thị Kim Ngân đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên chị Ngân khai nhận vào khoảng năm 2010 chị mua và đứng tên chiếc xe WAMEM biển số 54M5-2508, sau khi mua khoảng 5 tháng thì bán chiếc xe lại cho một người không rõ nhân thân, lai lịch. Khi bán xe chị Ngân không làm thủ tục mua bán xe.

Do không xác định được chủ sở hữu chiếc xe Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338 và 01 biển số xe 54M5-2508 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã đăng thông báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Vì vậy giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè B quản chiếc xe mô tô và biển số xe nói trên. Hết thời hạn do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đăng thông báo theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với chiếc xe mô tô trên và tịch thu tiêu hủy biển số xe trên.

Đối với người tên Hiếu bán ma túy cho Ân do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với người cho Tý mượn điện thoại để liên lạc mua ma túy do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Duy B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy tinh thể không màu có khối lượng 0,0968 gam tinh thể không màu, loại Methamphetamine;

Trả lại cho bị cáo Lê Duy B 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen it 2161 đã qua sử dụng và 01 áo khoác màu xanh đen

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh B quản chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338 và biển số xe mô tô 54M5-2508. Hết thời hạn do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đăng thông báo theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Dân sự mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, số khung VTTDCB023TT005223, số máy VLKZS1P50FMH00039338, tịch thu tiêu hủy biển số xe 54M5-2508. (Toàn bộ vật chứng có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo phiếu nhập kho số 2021-NK09 ngày 15 tháng 12 năm 2020)

Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Duy B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ