- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Q- Vi phạm GT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN LG TỈNH BẮC GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HS-ST Ngày 25-02-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Ông Lê Văn La
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Cường- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện LG.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LG, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên. Trong ngày 25 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LG tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn Q, sinh năm 1982. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố QM, thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Văn hóa: 12/12. Họ và tên bố: Dương Văn Đ, sinh năm 1952. Họ và tên mẹ: Ngô Thị Ph, sinh năm 1953. Gia đình có 04 anh em, bản thân là thứ 4. Họ và tên vợ: Dương Thị L, sinh năm 1987. Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo không bị tạm giữ, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” có mặt tại phiên tòa.
-Bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 2004 ( đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn TH, sinh năm 1975
Địa chỉ: Thôn D1, xã ĐL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn TH, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H1, xã ĐL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.
2. Anh Ngô Anh S, sinh năm 2004 do ông Ngô Văn Đ3, sinh năm 1976 là bố đẻ giám hộ (có mặt)
Địa chỉ: Thôn TR, xã ĐL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Xí nghiệp quản lý vận hành cao tốc Bắc Giang- Lạng Sơn.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T- chức vụ Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Bạch Văn S5, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Chu Nguyên, thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang
2. Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại PT. Địa chỉ: Thôn Ngọc S, xã QT, huyện LG, tỉnh Bắc Giang
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Sỹ Đ8- chức vụ Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Ngô Sỹ B, sinh năm 1987 chức vụ phó giám đốc (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Dương Văn Q, sinh năm 1982, ở Tổ dân phố QM, thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang là lái xe của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng và Thương mại PT, địa chỉ thôn Ngọc S, xã QT, huyện LG, tỉnh Bắc Giang và có giấy phép lái xe hạng C theo quy định. Khoảng 7 giờ 00 ngày 01/11/2020, Quân điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C - 076.97 của Công ty đi chở đất từ xã B S, huyện Lục Nam về thành phố Bắc Giang. Khi Quân điều khiển xe ô tô đi đến ngã tư giao cắt giữa đường gom cao tốc Bắc Giang - Lạng S với tuyến đường huyện ĐL - An Hà thuộc địa phận thôn Nam Tiến 2, xã Xương Lâm, huyện LG. Do không làm chủ tốc độ, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ nên xe ô tô của Quân đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 98AF - 016.35 do Nguyễn Văn Lợi, sinh năm 2004, trú tại thôn D1, xã ĐL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang điều khiển chở Ngô Anh S, sinh năm 2004, trú tại Thôn TR, xã ĐL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang đi hướng ĐL - thị trấn V, rồi tiếp tục đâm vào hàng rào sắt B40 và đổ nghiêng trên mái đường cao tốc. Hậu quả: Nguyễn Văn Lợi chết tại chỗ, Ngô Anh S bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang, gây thiệt hại về tài sản cho xí nghiệp quản lý vận hành cao tốc Bắc Giang - Lạng S.
* Khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra nằm trong khu vực ngã tư giao cắt giữa đường gom cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn với tuyến đường huyện ĐL – An Hà được trải áp phan nhựa thẳng phẳng, chiều rộng mặt đường 5,7m, hai bên máp đường không có lề đường, có rào chắn gia súc bằng kim loại cao 1,45m. Đầu đường huyện đi ĐL rộng 24,8m, đầu đường huyện đi thị trấn V rộng 14m. Tâm hai đầu đường cách nhau 11m. Hai bên đầu đường phía Bắc và phía Nam hiện trường có biển báo hiệu nguy hiềm “đường giao nhau” và biển báo “đi chậm”.
Xe ô tô biển kiểm soát 98C - 076.97 đổ nghiêng phải trên mái đường phải. Đầu xe quay hướng Đ8 - Nam. Đầu trục I bánh trước bên trái cách mép đường phải 80cm. Đầu trục IV bánh sau bên trái cách mép đường phải 140cm. Ký hiệu là (1)
Xe mô tô biển kiểm soát 98AF - 016.35 đổ nghiêng trái trên mái đường phải. Đầu xe quay hướng Tây - Nam. Đầu trục bánh trước cách mép đường 170cm và cách đầu trục I bánh trước bên trái xe (1) về hướng Đ8 Bắc 140cm. Đầu trục bánh sau cách mép đường phải 120cm. Ký hiệu là (2)
Nạn nhân là nam giới, mặc áo khoác màu đỏ, mặc quần dài màu đen, chết nằm úp trên mái đường phải. Đầu nạn nhân quay hướng Tây - Nam. Hai tay, hai chân nạn nhân co, một phần cơ thể nạn nhân bị dập nát, biến dạng, xung quanh khu vực cơ thể nạn nhân có nhiều máu và tổ chức cơ thể người (lục phủ ngũ tạng, thịt, máu ...) tâm cơ thể nạn nhân cách mép đường phải 160cm và cách đến đầu trục bánh sau xe (2) về hướng Đ8 - Bắc 70cm. Ký hiệu là (3)
Trên hiện trường còn để lại các dấu vết sau:
Đám vết cày xước nổi màu trắng đục, ngắt quãng không đều trên mặt đường kích thước dài đám vết 750cm, rộng đám vết 20cm, rộng vết đơn 5cm chiều hướng Tây Bắc - Đ8 Nam. Đầu đám vết là vệt cày chọc thủng đường và trùng với mép đường phải, cuối đám vết kết thúc trên mép hai tấm rào chặn gia súc bằng kim loại, phần tiếp giáp với mặt đường kích thước từng tấm kim loại là (260x145)cm và nằm chồng lên nhau, mép tấm chắn gần nhất cách mép đường phải 130cm. Ký hiệu là (4)
Vếp chà sát, cày bộc đất có chỗ in hình vân lớp, liên tục trên lề đường và mái đường phải kích thước dài vết 70cm, rộng vết 30cm chiều hướng Đ8 Bắc - Tây Nam. Đầu vết trùng với mép đường phải, cuối vết kết thúc ngay mặt lăn má lốp trục I bánh trước bên trái xe 1. Ký hiệu (5)
Vết cày bộc đất có chỗ in hình vân lốp, liên tục trên mặt đường huyện và mái đường gom phải kích thước dấu vết 900cm, rộng vết 65cm, rộng vết đơn 30cm, chiều hướng Đ8 Bắc - Tây Nam. Đầu vết vết cách mép đường phải 70cm, cuối vết kết thúc tại mặt lăn bánh sau trục III bên phải xe (1). Ký hiệu là (6)
Đám vết cày xước nổi màu trắng đục ngắt quãng không đều trên mặt đường và mái đường phải. Kích thước dài đám vết 1850cm, rộng đám vết 70cm, rộng vết đơn 5cm. Chiều hướng Đ8 Bắc - Tây Nam. Đầu đám vết cách mép đường phải 130cm, cuối vết kết thúc tại sườn xe bên trái xe (2). Ký hiệu là (7)
* Khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 98C - 076.97:
Vỡ khuyết dàn tản nhiệt trước đầu xe. Mặt ngoài bên trái ba đờ sốc trước có vết mài sát S kim loại hướng từ trước về sau, kích thước (7,5x4)cm, điểm thấp nhất cách đất 72cm. Mặt ngoài bên trái ba đờ sốc trước có vết hằn lõm, trượt xước, mài sát S kim loại in hình lục giác, hướng từ trước về sau, từ bên trái sang phải, kích thước (8x3)cm, điểm thấp nhất cách đất 69cm, cách đầu xe bên trái 82cm. Hệ thống đèn chiếu S5 bên trái có vết nứt, vỡ khuyết kích thước (24x14)cm, tâm vết cách đất 106cm. Mặt dưới mặt lên xuống bên trái có vết mài sát kim loại dính nhựa màu trắng kích thước (15x9)cm, tâm vết cách đất 65cm. Đầu xe bên phải gồm: Ba đờ sốc, đèn chiếu S5, ốp nhựa, cánh cửa có vết nứt vỡ, chùn cong, mài sát kim loại bám dính đất, kích thước (136x130)cm, điểm thấp nhất cách đất 90cm. Chắn bùn bên phải phía trước bị vỡ, cong vênh biến dạng. Hộp ống xả bị bẹp biến dạng. Toàn bộ sườn, thành thùng, hệ thống lốp bên phải bám dính đất.
* Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98AF - 016.35:
Toàn bộ xe bị vỡ khuyết, cong vênh, biến dạng. Mặt ngoài ốc vít ốp nhựa giảm sốc trước bên phải có vết hằn lõm, mài sát kim loại dính chất màu xanh hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái, kích thước (1,2x1,2)cm. Ốp nhựa dưới yên xe bên phải có vết bẹp lõm, mài sát S dính chất màu xanh, hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái, kích thước (19x4)cm. Tay lái gãy rời khỏi xe, bầu lọc gió bị vỡ, rời khỏi vị trí cố định. Vỡ khuyết chắn bùn phía trước, vỡ khuyết ½ sau yên xe; phần yên xe, biển số bị vỡ khuyết rời khỏi vị trí cố định. Toàn bộ sườn xe bên trái các điểm nhô ra cao nhất có vết chùn cong, bẹp lõm, mài sát S kim loại có bán dính đất.
* Khám nghiệm tử thi Nguyễn Văn Lợi:
Vùng đầu tóc đen cắt ngắn trung bình, vùng trán đỉnh có diện dập rách, lóc da để lộ xương hộp sọ, kích thước (15x13)cm; vùng mặt có diện xây xát, rách da bầm tím (12x9)cm; vùng cổ có diện xây xát da bầm tím (13x5)cm; vùng ngực bụng có diện mài sát da, bầm tím (45x39)cm; cẳng tay bàn tay trái có diện xây xát rách da (35x7)cm, cẳng tay bàn tay phải có diện xây xát rách da (36x4)cm gãy phức tạp 1/3 giữa hai xương cẳng tay phải; hố chậu phải có diện rộng rách da để lộ tổ chức cơ và tổ chức nội tạng (16x8)cm; vùng bẹn và đùi phải có diện dập rách da lộ cơ, xương kích thước (20x19)cm, kiểm tra thấy gãy phức tạp xương đùi, xương chậu; đùi căng chân phải có diện xây xát rách da (45x16)cm gãy phức tạp 1/3 dưới hai xương cẳng chân phải; đùi cẳng chân bàn chân trái có diện xây xát rách da mất tổ chức kích thước (55x19)cm; kiểm tra thấy gãy phức tạp xương sườn 6, 7, 8, 9 bàn phải; 7, 8, 9 bên trái; vùng mông, mặt sau đùi trái có diện dập rách da, lộ cơ, xương, tổ chức nội tạng kích thước (43x25)cm; mổ tử thi hoặc một phần tử thi: Phân tích vết thương hố chậu phải thấy bầm dập tổ chức cơ, tổ chức dưới da, tổ chức nội tạng dập nát lòi ra ngoài; phân tích vết thương vùng bẹn đùi phải thấy bầm tụ máu tổn thương nhiều vị trí; gãy hở đầu trên xương đùi, đầu xương gãy lòi ra ngoài, gãy phức tạp xương mu, xương chậu hai bên.
Kết luận giám định số 1594/KL-KTHS ngày 03/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:
“Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn L: Đa chấn thương; Tổn thương dập nát phức tạp xương, tổ chức cơ thể do tai nạn giao thông”.
Kết luận giám định số 1933/KL-KTHS ngày 29/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:
“1. Dấu vết hằm lõm, trượt xước, mài sát S, kim loại, in hình lục giác tại bên trái ba đờ sốc trước (vị trí sát tấm kim loại gắn biển số trước) của xe ô tô 98C – 076.97 được hình thành do va chạm với dấu vết hằn lõm, mài sát kim loại, dính chất màu xanh tại vị trí giảm sóc trước bên phải của xe mô tô 98AF-016.35 tạo nên là phù hợp.
Dấu vết mài sát S, kim loại tại bên trái ba đờ sốc trước (vị trí dưới cụm đèn trước) của xe ô tô 98C – 076.97 được hình thành do va chạm với dấu vết mài sát S nhựa, dính chất màu xanh tại vị trí ốp nhựa dưới yên xe bên phải của xe mô tô 98AF-016.35 tạo nên là phù hợp.
2. Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 7 được hình thành do quá trình sau khi va chạm, xe mô tô 98AF - 016.35 đổ nghiêng trái bị chèn đè, đẩy, rê trượt trên mặt đường và mái đường tạo nên là phù hợp.
3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô 98C – 076.97 và xe mô tô 98AF - 016.35 trên mặt đường ở phía trước điểm đầu dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 7, thuộc khu vực ngã tư giao nhau giữa đường gom cao tốc Bắc Giang -Lạng S với đường huyện ĐL – An Hà.
4. Không Đ3 điều kiện để xác định tốc độ của 2 phương tiện trước khi xảy ra tai nạn”.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 9744/20/TgT, ngày 01/12/2020 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang, kết luận tỷ lệ thương tích đối với Ngô Anh S như sau:
“Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 31% (Ba mốt phần trăm)”.
Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐ ngày 06/01/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện LG, kết luận về giá trị tài sản:
“- Xác định giá trị phần thiệt hại, hư hỏng đối với 01 chiếc xe mô tô BKS: 98AF - 016.35, nhãn hiệu SADABOSS, dung tích xy lanh 49.5 là: 8.000.000 đồng.
- Xác định giá trị phần thiệt hại, hư hỏng đối với 01 chếc xe ô tô tải màu xanh BKS: 98C - 076.97, số khung: XSE0E788529, số máy 140307038627 là: 56.265.000 đồng.
- Chi phí sửa chữa, thay thế 04 tấm hàng rào B40 bị hư hỏng, 06 cột sắt đỡ hàng rào là 21.816.174 đồng;
Tổng giá trị tài sản định giá là: 86.081.174 đồng (Tám mươi sáu triệu không trăm tám mươi mốt nghìn một trăm bẩy mươi tư đồng chẵn).”
Như vậy đã có căn cứ để xác định Dương Văn Q vi phạm khoản 1, 3 Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/08/2019 của Bộ Giao thông vận tải, quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; vi phạm khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ.
Khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ dể có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;
3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng”.
Khoản 1 Điều 11, Luật Giao thông đường bộ, quy định: “Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Khoản 1 Điều 12, Luật Giao thông đường bộ, quy định: “Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường”.
Quá trình điều tra Dương Văn Q thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Văn Lợi số tiền 150.000.000 đồng, bồi thường cho Ngô Anh S số tiền 20.000.000 đồng, bồi thường cho Xí nghiệp Quản lý vận hành cao tốc Bắc Giang - Lạng S số tiền 21.816.000 đồng. Đến nay gia đình nạn nhân Nguyễn Văn L, Ngô Anh S và đại diện Xí nghiệp Quản lý vận hành cao tốc Bắc Giang - Lạng S không có yêu cầu gì.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Dương Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 01/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện LG đã truy tố bị cáo Dương Văn Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Dương Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Dương Văn Q thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý về vật chứng, tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện LG, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện LG, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy Đ3 lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra tại phiên tòa.
Về căn cứ xác định bị cáo có tội Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y, bản kết luận định giá tài sản của cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có Đ3 cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 01/11/2020, tại ngã tư giao cắt giữa đường gom cao tốc Bắc Giang - Lạng S với tuyến đường huyện ĐL - An Hà thuộc địa phận thôn Nam Tiến 2, xã Xương Lâm, huyện LG, Dương Văn Q điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-076.97 do không chấp hành báo hiệu đường bộ, không làm chủ tốc độ nên gây tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 98AF-016.35 do anh Nguyễn Văn Lợi điều khiển chở anh Ngô Anh S đi hướng ĐL - thị trấn V. Hậu quả làm anh Nguyễn Văn Lợi bị tử vong.
Hành vi của Dương Văn Q Đ3 yếu tố cấu thành của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người Đ3 tuổi, Đ3 năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử ngày hôm nay với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hậu quả của vụ án là nghiêm trọng. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân để khắc phục hậu quả; nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn có một phần lỗi của bị hại gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo trong quá trình tham gia nhập ngũ đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án HĐXX xét thấy bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với lỗi vô ý, bị hại có lỗi một phần khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không chấp hành biển báo, đi nhanh không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, theo lời khai của bị hại và bị cáo điểm va trạm nằm trên phần đường của xe ô tô, nên HĐXX thấy đây là lỗi hỗn hợp không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương cũng Đ3 điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. HĐXX xét thấy trong vụ án này có một phần lỗi của bị hại nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Dương Văn Q tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Văn L số tiền 150.000.000 đồng, bồi thường cho Ngô Anh S số tiền 20.000.000 đồng, bồi thường cho Xí nghiệp Quản lý vận hành cao tốc Bắc Giang - Lạng S số tiền 21.816.000 đồng. Đến nay gia đình nạn nhân Nguyễn Văn Lợi, anh Ngô Anh S và đại diện Xí nghiệp Quản lý vận hành cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chứng:
Đối với vật chứng là chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 98C - 076.97, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và B vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 Đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 98C - 076.97, 01 B hiểm xe ô tô (đều là của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 076.97); 01 xe mô tô biển kiểm soát 98AF – 016.35 đã bị hư hỏng. Ngày 01/12/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LG đã ra Quyết định xử lý vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu và gia đình nạn nhân Nguyễn Văn L. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng C số 240081244250 của Sở Giao thông vận tải Bắc Giang cấp cho Dương Văn Q, sinh năm 1982, trú tại Tổ dân phố QM, thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang ngày 31/5/2016, Do HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Văn Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Dương Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Văn Q 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 ( ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Dương Văn Q thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Dương Văn Q 01 Giấy phép lái xe hạng C số 240081244250 của Sở Giao thông vận tải Bắc Giang cấp cho Dương Văn Q, sinh năm 1982, trú tại Tổ dân phố QM, thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang ngày 31/5/2016.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Văn Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: -TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang; -VKSND, CA, Chi cục THADS huyện LG; -Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; -Cổng TTĐT Tòa án; -Bị cáo; -UBND nơi bị cáo cư trú; -Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |