- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H - Đường Quang T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H đƣợc ly hôn anh Đƣờng Quang T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 3 - 2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đới Văn Trinh
2. Ông Phạm Phúc Ân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 350/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/01/2021 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1977;
Nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng;
Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
2. Bị đơn: Anh Đƣờng Quang T, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
* Ngƣời làm chứng: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn A, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
Chị H, anh T, chị Hạnh đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/11/2020, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, chị Hoàng Thị H trình bày:
Chị và anh T đăng ký kết hôn ngày 15/10/1997 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C (nay là thành phố C) trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh T ở thôn Đ, xã H. Đến năm 2006, vợ chồng chuyển về ở nhờ trên đất nhà bố mẹ đẻ chị H ở thôn T, xã L, thành phố C. Năm 2015, anh T chuyển về thôn Đ, xã H ở để chăn nuôi. Sau đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T mải chơi, không chịu tu chí làm ăn. Đến đầu năm 2016, chị vào ở cùng anh T, nhƣng anh T vẫn không chịu thay đổi. Dẫn tới vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Cuối năm 2016, do không hợp nhau nên chị đã chuyển về nhà đất tại thôn T, xã L ở. Anh T và gia đình có động viên chị quay về đoàn tụ với anh T nhƣng chị thấy anh T không chịu thay đổi, vợ chồng cũng không còn tình cảm nên chị không đồng ý quay về. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị xác định vợ chồng không thể đoàn tụ đƣợc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh T. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là: Đƣờng Thị U, sinh ngày 18/7/1998; Đƣờng Thị C, sinh ngày 12/5/2002; Đƣờng Quốc V, sinh ngày 24/12/2009. Cháu U và cháu C đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng. Do vậy, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Đƣờng Quốc V hiện tại đang do anh T trực tiếp nuôi dƣỡng. Nếu ly hôn đề nghị đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng và không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con với chị. Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh Đƣờng Quang T đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng không đến tòa án. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh đã phối hợp với địa phƣơng đến làm việc với anh T nhiều lần. Quá trình làm việc, anh T xác định anh và chị H có một số bất đồng nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Anh đã nhiều lần động viên chị H quay về đoàn tụ nhƣng chị H không đồng ý quay về. Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý. Về con chung: Anh T xác định cháu U và cháu C đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh đề nghị đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cháu Đƣờng Quốc V và không yêu cầu chị H phải cấp dƣỡng nuôi con với anh vì cháu do anh nuôi dƣỡng từ nhỏ đến nay. Anh T thừa nhận đã nhận các văn bản tố tụng do Tòa án giao nhƣng không đồng ý ký biên bản và đến tòa vì không muốn ly hôn chị H.
- Quá trình làm việc với Tòa án, cháu Đƣờng Quốc V trình bày có nguyện vọng xin đƣợc ở với cả bố và mẹ.
- Tại các biên bản xác minh ngày 06/01/2021, Ủy ban nhân dân xã H xác định: Năm 2016, chị H và anh T có mâu thuẫn, sau đó, chị H chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn T, xã L ở, còn anh T vẫn ở thôn Đ, xã H. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể giữa chị H và anh T địa phƣơng không nắm đƣợc, chỉ biết là chị H mấy năm nay không chung sống với anh T. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của địa phƣơng là đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo định pháp luật. Về con chung: Địa phƣơng xác định cháu Văn hiện đang do anh T trực tiếp nuôi dƣỡng, đƣợc anh T chăm sóc, nuôi dƣỡng tốt và cho đi học đầy đủ. Cháu khỏe mạnh, ngoan ngoãn. Anh T làm nông nghiệp, chăn nuôi. Kinh tế khá, đủ khả năng để chăm sóc tốt cho cháu Văn.
- Chị Hoàng Thị H là em gái chị H xác định: Năm 2016, vợ chồng chị H, anh T phát sinh mâu thuẫn. Chị H bỏ về nhà bố mẹ chị tại thôn T, xã L ở cùng với hai con lớn. Ngày 20/12/2016 âm lịch, chị lên nhà mới, vợ chồng chị có mời cả chị H và anh T đến dự, mục đích để tạo điều kiện cho vợ chồng về với nhau. Nhƣng hôm đó giữa chị H và anh T có xảy ra cãi vã, xô xát. Sau đó, chị H và anh T tiếp tục sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn anh T. Quan điểm của chị là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà:
Chị H vắng mặt có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt, trình bày giữ nguyên quan điểm nhƣ nội dung nêu trên; Anh T đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Bị đơn không chấp hành việc triệu tập của Tòa án. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H đƣợc ly hôn anh Đƣờng Quang T. Về con chung: Xử giao con chung Đƣờng Quốc V, sinh ngày 24/12/2009 cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh T tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh T. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở chị H thực hiện quyền này. Đối với con chung Đƣờng Thị U, sinh ngày 18/7/1998; Đƣờng Thị C, sinh ngày 12/5/2002 đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng. Chị H, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về quan hệ tài sản chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn, giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa. Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Anh T đã đƣợc tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh T.
Chị H và anh T kết hôn với nhau ngày 15/10/1997 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H. Do vậy, hôn nhân của chị H, anh T là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế, dẫn đến cãi vã, xúc phạm nhau. Từ năm 2016 đến nay vợ chồng đã sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Mặc dù, anh T có quan điểm không muốn ly hôn, nhƣng không có biện pháp và hành động cụ thể để vợ chồng về đoàn tụ; Tòa án triệu tập anh T đến tham gia phiên hòa giải và phiên tòa nhƣng anh T không đến, thể hiện sự thờ ơ, bỏ mặc tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy r ng việc chị H, anh T không sống chung; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị H xin ly hôn anh T.
Về con chung: Chị H, anh T có 03 con chung. Con chung Đƣờng Thị U, sinh ngày 18/7/1998; Đƣờng Thị C, sinh ngày 12/5/2002 đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng và tự lo đƣợc cuộc sống bản thân. Chị H, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung đối với hai con U và C nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với con chung Đƣờng Quốc V, sinh ngày 24/12/2009, hiện tại đang do anh T trực tiếp nuôi dƣỡng. Cả anh T và chị H đều có quan điểm muốn đƣợc tiếp tục nuôi con. Tuy nhiên, xét điều kiện, hoàn cảnh: Cháu V đang ở với anh T, đƣợc anh T trực tiếp nuôi dƣỡng khỏe mạnh, ngoan ngoãn, học hành đầy đủ; Anh T cũng có đủ điều kiện về kinh tế để chăm sóc tốt cho cháu V. Do vậy, cần căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, tiếp tục giao con chung Đƣờng Quốc V cho anh T tiếp tục nuôi dƣỡng mới đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu V. Anh T không yêu cầu chị H phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh, đây là ý kiến tự nguyện của anh T nên đƣợc chấp nhận. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở.
Về quan hệ tài sản: Chị H, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm cấp dƣỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H đƣợc ly hôn anh Đƣờng Quang T.
2. Về con chung: Xử giao con chung Đƣờng Quốc V, sinh ngày 24/12/2009 cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh T. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở chị H thực hiện quyền này.
Đối với con chung Đƣờng Thị U, sinh ngày 18/7/1998; Đƣờng Thị C, sinh ngày 12/5/2002 đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng nên không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị H đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0006696 ngày 06/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Chị H đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - UBND xã H (Để ghi sổ hộ tịch); - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kim Giang |