- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Y. Chị Nguyễn Thị Kim Y được ly hôn với anh Phạm Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢ NGHĨA TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 05 - 2021 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Sơn.
2. Bà Đinh Thị Thu Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 05 năm 2021, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 62/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 04 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2021/QĐST-DS ngày 04/05/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1989.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Xóm 1, thôn M, xã N, huyện TN, tỉnh Quảng Ngãi.
Chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt; anh P vắng mặt không có lý do.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 11/12/2020 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Y, trình bày:
Chị và anh Phạm Văn P quen biết, tìm hiểu, yêu thương được một thời gian thì tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện TN, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 28 tháng 11 năm 2012.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian tại xã N, huyện TN thì phát sinh mâu thuẩn, đỉnh điểm mâu thuẩn là vào tháng 06/2020 kéo dài đến nay, không ai hỏi ai, phần ai nấy sống. Nguyên nhân là do anh P không chăm lo cho gia đình, không chăm sóc vợ con, thường xuyên gây gỗ với vợ, sống không có trách nhiệm với con cái, không chăm lo cho gia đình. Chị Y đã nhiều lần khuyên nhũ nhưng anh P không thay đổi. Vợ chồng sống chung một nhà nhưng không quan tâm nhau, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn P.
Về con chung: Có 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Như Q, sinh ngày: 29/05/2014 và Phạm Nguyễn Duy Đ, sinh ngày: 31/05/2017. Hiện nay các con đang chung sống với chị Y; khi ly hôn, chị Y yêu cầu được tiếp tục chăm sóc các con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trình bày, ý kiến của anh Phạm Văn P: Bị đơn anh Phạm Văn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác, nhưng anh P không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa làm việc về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên hồ sơ không thể hiện ý kiến của anh P.
- Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ xác minh tại chính quyền, đoàn thể địa phương vào ngày 18/01/2021. Về phía Hội phụ nữ xã N, Hội phụ nữ không biết được nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Y và anh P vì không nghe chị Yhay anh P cũng như Chi hội phụ nữ thôn M báo về trường hợp này. Qua làm việc với UBND xã N, có ông Bùi Trung Nhị - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N về điều kiện sống, sinh hoạt của gia đình chị Nguyễn Thị Kim Y và anh Phạm Văn P, ông Nhị cho hay tuy anh P và chị Y sống cùng một nhà nhưng anh P đi từ sáng đến tối có khi vài hôm mới về, không rõ nghề nghiệp gì, còn chị Y mở tiệm thuốc tây bán tại địa phương.
- Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không trình bày ý kiến, bị đơn vắng mặt tất cả các lần theo giấy triệu tập của Tòa nhưng không có lý do. Vì vậy, bị đơn đã vi phạm vào các Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim Y. Đối với 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Như Q, sinh ngày: 29/05/2014 và Phạm Nguyễn Duy Đ, sinh ngày: 31/05/2017, hiện nay các cháu đang sống chung với chị Y, đề nghị Hội đồng xét xử giao các cháu Q và cháu Đ cho chị Y tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Y tự nguyện không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Phạm Văn P hiện tại có chỗ ở tại huyện TN, tỉnh Quảng Ngãi nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TN, tỉnh Quảng Ngãi được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Về xét xử vắng mặt bị đơn: Anh Phạm Văn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án số: 62/2020/ TLST-HNGĐ, ngày 21/12/2020; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số: 227 /TB-TA ngày 02/03/2021; Thông báo thu thập được tài liệu, chứng cứ 250/TB-TA; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 260 /TB-TA ngày 18/03/2021; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ số: 268/TB-TA 04/04/2021; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 04 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2021/QĐST-DS ngày 04/05/2021, nhưng anh P không có văn bản trình bày ý kiến cũng như vắng mặt không có lý do trong hai lần mở phiên tòa, chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P và chị Y là phù hợp quy định pháp luật.
Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Y và anh Phạm Văn P tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã A và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh P là hợp pháp, được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về mâu thuẫn vợ chồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống, giữa chị Y và anh P có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, phần ai nấy sống. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh P làm việc và tiến hành hòa giải nhằm mục đích động viên chị Y và anh P đoàn tụ, nhưng anh P không gửi văn bản trình bày ý kiến và không đến tham gia phiên hòa giải, điều này chứng tỏ anh P không quan tâm đến sự hàn gắn trong quan hệ vợ chồng, phù hợp với lời trình bày của chị Y là quan hệ tình cảm vợ chồng đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim Y, cho chị Nguyễn Thị Kim Y được ly hôn với anh Phạm Văn P là phù hợp với quy định Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị Y và anh P có 02 con chung, tên là Phạm Nguyễn Như Q, sinh ngày: 29/05/2014 và Phạm Nguyễn Duy Đ, sinh ngày: 31/05/2017.
Hội đồng xét xử xét thấy, các cháu Q, Đ hiện đang được chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị Y yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q, Đ còn anh Pg không có lời khai nên không xác định được ý kiến của anh P có yêu cầu được nhận nuôi dưỡng các con hay không. Hiện nay chị Y có công việc làm và có thu nhập ổn định. Vì vậy, để đảm bảo lợi ích về mọi mặt của cháu Qu, Đ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim Y, giao các cháu Q, Đ cho chị Nguyễn Thị Kim Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đối với yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con: chị Y không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh P vắng mặt nên không có ý kiến.
Về nợ chung: Chị Y trình bày không có, anh P vắng mặt nên không có ý kiến.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định, phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Căn cứ vào Điều 8, Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Y. Chị Nguyễn Thị Kim Y được ly hôn với anh Phạm Văn P.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Như Q, sinh ngày: 29/05/2014 và Phạm Nguyễn Duy Đ, sinh ngày: 31/05/2017 cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn P không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Khi có lý do chính đáng, chị Y và anh P có thể thỏa thuận giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim Y phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Y đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0005678 ngày 18/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TN, tỉnh Quảng Ngãi.
4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim Y và anh Phạm Văn P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng Ngãi; -VKSND tỉnh Quảng Ngãi; -VKSND huyện TN; - Chị cục THADS huyện TN; - UBND xã A, huyện TN; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu Hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Thanh Hòa |