- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HNGĐ - ST Ngày 26 tháng 03 năm 2021 V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, Ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tâm
Các hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Ngọc và bà Hà Thị Hòa
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa;
Ngày 26 tháng 03 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 154/2020/TLST- HNGĐ ngày 18/11/2020 về: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐST - HNGĐ ngày 04/02/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2021/QĐST - HNGĐ ngày 04/3/2021 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1974
Nghề nghiệp: Giáo viên
Trú tại: Thôn XĐ, xã XT, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
+ Bị đơn: Anh Lương Văn M, sinh năm 1976
Nghề nghiệp: Trồng trọt
Trú tại: Thôn XĐ, xã XT, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 17/11/2020; trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị Tình trình bày:
Về hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Lương Văn M chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương vào năm 1993, sau thời gian dài chung sống đến ngày 19 tháng 4 năm 2002 vợ chồng mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã XT, huyện Thường Xuân. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được 16 năm, đến năm 2009 nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cải cọ nhau, trong cuộc sống bất đồng quan điểm, anh M có tính gia trưởng, bảo thủ, thậm chí còn chửi bới, xúc phạm chị T, đập phá đồ dùng sinh hoạt trong gia đình. Chị T đã khuyên giải nhưng anh M vẫn không thay đổi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Gia đình hai bên nội, ngoại đã hòa giải nhiều lần vợ chồng quay lại chung sống với nhau, nhưng anh M vẫn không thay đổi. Chị T và anh M đã sống ly thân nhau từ tháng 04/2020 đến nay, trong thời gian ly thân mỗi người sống một nhà, công việc của ai người đó tự lo, không ai quan tâm đến ai nữa. Nay xét thấy tình cảm giữa chị và anh M không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lương Văn M.
Về con chung: Chị Hà Thị T và anh Lương Văn M có 02 con chung là: Lương Thị Thu T, sinh ngày 26/02/1994 và Lương Thanh N, sinh ngày 23/6/1996. Hai cháu trưởng thành, lao động bình thường nên các cháu ở với ai là tùy các cháu, chị Tình không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lương Văn M trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lương Văn M đồng ý với phần trình bày về đăng ký kết hôn của chị Hà Thị T. Trong quá trình chung sống anh M, chị T hạnh phúc được thời gian dài là 27 năm, vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, thỉnh thoảng có xảy ra cải cọ nhau, bất đồng quan điểm sống, nhưng mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh không đồng ý, bản thân anh xét thấy vẫn còn tình cảm với chị T nên anh M đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng quay lại đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Lương Thị Thu T, sinh ngày 26/02/1994 và Lương Thanh N, sinh ngày 23/6/1996. Hai cháu trưởng thành, có sức khỏe lao động bình thường nên các cháu ở với ai là tùy các cháu, anh Lương Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản; công nợ: Chị Hà Thị T và anh Lương Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 23/01/2021chị Hà Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Tại phiên tòa chị Hà Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình, trường hợp vắng mặt anh Lương Văn M tại phiên tòa, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh M, nhưng anh M vẫn vắng mặt không có lý do.Tòa án xét thấy việc anh M vắng mặt tại phiên toà thuộc trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án nên căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
.Về thủ tục tố tụng: Chị Hà Thị T có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân xin ly hôn với anh Lương Văn M. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa giải quyết vụ án đúng thẩm quyền.
.Về hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Lương Văn M, kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đủ cơ sở xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Xét nguyện vọng xin ly hôn của chị T là có cơ sở, trong cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh M phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi cọ, bất quan điểm sống nên từ tháng 04/2020 đến nay chị T, anh M đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án anh M cũng xác định anh và chị T có mâu thuẫn, trong cuộc sống xảy ra bất đồng quan điểm, hai bên gia đình nội, ngoại đã khuyên giải, Tòa án đã tiến hành hòa giải để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm nhưng vợ chồng vẫn không thể quay lại đoàn tụ được với nhau. Ngày 23/01/2021 chị T đã cung cấp cho Tòa án tình trạng mâu thuẫn vợ chồng trong quá trình chung sống. Như vậy xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng việc anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi cọ, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Ngày 23/01/2021 chị Hà Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
Về con chung: Vợ chồng công nhận có 02 con chung là: Lương Thị Thu T, sinh ngày 26/02/1994 và Lương Thanh N, sinh ngày 23/6/1996. Hai cháu đã trưởng thành, lao động bình thường nên các cháu ở với ai là tùy các cháu, chị Hà Thị T, anh Lương Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản; công nợ: Chị Hà Thị T và anh Lương Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trường hợp anh Lương Văn M vắng mặt không có lý do tại phiên tòa, Tòa án đã tống đạt, các loại giấy tờ tố tụng theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh M là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Chị Hà Thị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 5; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định “Về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị T.
Về hôn nhân: Chị Hà Thị T được ly hôn anh Lương Văn M.
Về con chung: Vợ chồng công nhận có 02 con chung Lương Thị Thu T, sinh ngày 26/02/1994 và Lương Thanh N, sinh ngày 23/6/1996. Hai cháu trưởng thành và lao động bình thường nên các cháu ở với ai là tùy các cháu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản; công nợ: Chị Hà Thị T và anh Lương Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Hà Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai số 0003058 ngày 18/11/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, số tiền này được chuyển thành tiền án phí của chị T phải nộp.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hà Thị T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/03/2021), bị đơn anh Lương Văn M được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thường Xuân; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Chi cục THADS huyện Thường Xuân; - UBND xã Xuân Thắng; - Đương sự; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Tâm |