- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giàng Seo C ly hôn Thào Thị T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Giàng Seo C; xử cho anh Giàng Seo C được ly hôn chị Thào Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08 /2021/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 7 năm 2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG -TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diện.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng Seo Chử và bà Lồ Củi Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Giàng Mạnh Vàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Vũ Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân huyện Mường Khương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2021/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Giàng Seo C, Sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn BP, xã TNC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Chị Thào Thị T,
Sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn BP, xã TNC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, (vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 3 năm 2021 và bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Giàng Seo C trình bày:
Anh và chị Thào Thị T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TNC huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai vào năm 2002 theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, đến tháng 9 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và trong việc làm ăn xây dựng gia đình. Chị T không chăm lo cho cuộc sống gia đình và các con. Vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2018, anh sống cùng các con tại thôn BP, xã TNC, còn chị T đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không đạt được kết quả, tỉnh cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Vì vậy anh đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh có 03 người con chung là cháu Giàng Seo P, sinh ngày 07 tháng 03 năm 2003, cháu Giàng Thị M, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2005 và cháu Giàng Seo P1, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2006. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Giàng Thị M và cháu Giàng Seo P1, còn cháu Giàng Seo P đã đủ 18 tuổi, cháu ở với ai là quyền của cháu. Anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị Thào Thị T đều vắng mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh và lấy lời khai của người làm chứng tại địa phương nơi chị T sinh sống được biết: Chị Thào Thị T và anh Giàng Seo C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh chị là do chị T đi làm thuê, thỉnh thoảng về nhà thăm con rồi lại đi, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày một xa cách. Tòa án đã tiến hành niêm yết các giấy triệu tập đối với chị T để Tòa án tiến hành lấy lời khai nhưng chị T đều vắng mặt.
Tòa án đã ra thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị T không có mặt nên không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ và niêm yết tại địa phương theo quy định.
Tại phiên tòa, anh C vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh đề nghị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định, việc chấp hành pháp luật của bị đơn là chưa đúng.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện sát nhân dân huyện Mường Khương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Giàng Seo C được ly hôn chị Thào Thị T. Về con chung: Giao cháu Giàng Thị M, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2005 và cháu Giàng Seo P1, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2006 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đề cập xử lý. Ngoài ra tuyên án phí, quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Anh Giàng Seo C khởi kiện xin ly hôn và đề nghị giải quyết việc nuôi con chung với chị Thào Thị T nên xác định đây là vụ án về Hôn nhân và gia đình. Chị T đăng ký hộ khẩu và cư trú tại thôn BP, xã TNC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Giàng Seo C vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Thào Thị T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]Về quan hệ hôn nhân:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định: Anh Giàng Seo C và chị Thào Thị T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TNC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Nguyên nhân mâu thuẫn xảy ra giữa hai vợ chồng là do vợ chồng không hợp nhau, dẫn đến vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Anh chị đã sống ly thân tính đến nay được hơn hai năm không có quan hệ gì về kinh tế và tình cảm. Vì vậy xét thấy tình trạng hôn nhân giữa các đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần phải xử cho anh Giàng Seo C được ly hôn chị Thào Thị T là phù hợp. Quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh C và chị T có 03 con chung là cháu Giàng Seo P, sinh ngày 07 tháng 03 năm 2003, cháu Giàng Thị M, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2005 và cháu Giàng Seo P1, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2006, Anh C có nguyện vong được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Giàng Thị M, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2005 và cháu Giàng Seo P1 sinh ngày 05 tháng 11 năm 2006, đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con; còn cháu Giàng Seo P đã đủ 18 tuổi, cháu ở với ai do cháu tự quyết định, anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Tòa án cũng đã tiến hành hỏi ý kiến của cháu Giàng Thị M và cháu Giàng Seo P1 thì nguyện vọng của các cháu đề nghị được ở với bố vì mẹ các cháu đi làm xa thỉnh thoảng mới về nhà, về được một hai ngày lại đi. Bản thân anh C hiện tại làm nghề sản xuất nông nghiệp, thu nhập bình quân khoảng 3.000.000 đồng/tháng. Vì vậy để đảm bảo sự phát triển về thể chất và tinh thần cũng như đảm bảo việc học tập của cháu ổn định, cần giao cháu Giàng Thị M và cháu Giàng Seo P1, cho anh C nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Giàng Seo C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Giàng Seo C; xử cho anh Giàng Seo C được ly hôn chị Thào Thị T.
2. Về con chung: Giao cháu Giàng Thị M, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2005 và cháu Giàng Seo P1, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2006, cho anh Giàng Seo C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị Thào Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Giàng Seo C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai theo biên lai số AB/2012/0008181, ngày 25 tháng 3 năm 2021.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lào Cai; -VKSND huyện MK, VKSND tỉnh Lào Cai; -Chi cục THADS huyện Mường Khương; -Các đương sự; -UBND xã TNC, huyện MK; -Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hồng Diện |