vanban.org

Bản án 08/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Tô Thị Ánh T được ly hôn với ông Trương Văn H.

Về con chung: Giao cháu Trương Huỳnh Ánh L, sinh ngày 14/01/2016 cho bà Tô Thị Ánh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Trương Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Trương Văn H mà không ai được ngăn cản. Về tài sản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Tô Thị Ánh T được ly hôn với ông Trương Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/HNGĐ - ST.
Ngày: 11 – 3 - 2021.
V/v “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩmphán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Quyết Chiến.

2. Ông Lê Hồng Điệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Buốl – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Điều - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 220/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tô Thị Ánh T, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ x, thôn C, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Trương Văn H, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp x, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 22/9/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Tô Thị Ánh T trình bày:

Nguyên vào năm 2015, bà Tô Thị Ánh T và ông Trương Văn H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 16/6/2015. Sau khi kết hôn ông, bà chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cải nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Do mâu thuẫn trầm trọng nên ông, bà sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian chung sống ông, bà có 01 (một) người con chung tên Trương Huỳnh Ánh L, sinh ngày 14/01/2016 hiện nay đang sống với bà T. Quá trình chung sống bà T và ông H có tạo lập được một số tài sản chung nhưng đã tự thỏa thuận với nhau; nợ chung không có.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, ngày 10 tháng 3 năm 2021 bà Tô Thị Ánh T vẫn giữ nguyên yêu cầu theo nội dung đơn khởi kiện, cụ thể: Về hôn nhân xin được ly hôn với ông Trương Văn H; về con chung: Xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trương Huỳnh Ánh L, sinh ngày 14/01/2016, không yêu cầu ông Trương Văn H cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung: Đã tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị ông Trương Văn H: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông H, nhưng ông không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông H 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông H để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tô Thị Ánh T.

+ Về con chung: Giao con chung là Trương Huỳnh Ánh L, sinh ngày 14/01/2016 cho bà Tô Thị Ánh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông Trương Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu.

+ Về tài sản chung: Bà Tô Thị Ánh T xác định trong thời gian chung sống bà và ông Trương Văn H có tạo lập được một số tài sản chung nhưng đã tự thỏa thuận với nhau, bà không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

+ Về nợ chung: Bà Tô Thị Ánh T xác định trong thời gian chung sống bà và ông Trương Văn H không có nợ chung, bà không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNHCỦA TÒAÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Tô Thị Ánh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và bà T có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Trương Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Tô Thị Ánh T và ông Trương Văn H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Ánh T và ông Trương Văn H có đăng ký kết hôn vào ngày 16/6/2015 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân của bà T và ông H tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Tô Thị Ánh T và ông Trương Văn H là hợp pháp. Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 22/9/2020 và ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, bà Tô Thị Ánh T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Trương Văn H với lý do trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cải nhau, dẫn đến mâu thuẫn gay gắt, đời sống hôn nhân không hạnh phúc và ông, bà đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Từ khi bà T chính thức xin ly hôn đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Tô Thị Ánh T và ông Trương Văn H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Tô Thị Ánh T được ly hôn với ông Trương Văn H.

[3] Về con chung: Bà Tô Thị Ánh T xác định trong thời gian chung sống bà và ông Trương Văn H có 01 (một) người con chung tên Trương Huỳnh Ánh L, sinh ngày 14/01/2016, hiện nay cháu đang chung sống với bà T. Trong quá trình giải quyết vụ án bà T xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các người con chung, không yêu cầu ông Trương Văn H cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế bà T đã không còn chung sống với ông H từ khoảng năm 2019 cho đến nay, trong khoảng thời gian này cháu Linh do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cuộc sống của cháu đã ổn định về mọi mặt; việc thay đổi điều kiện, hoàn cảnh sống sẽ làm ảnh hưỡng đến tâm lý, tình cảm, sự phát triển bình thường về mọi mặt của cháu Linh. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Linh cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là cần thiết và phù hợp với quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Trong qua trình giải quyết vụ án bà Tô Thị Ánh T không có yêu cầu ông Trương Văn H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Tô Thị Ánh T xác định bà và ông Trương Văn H đã tự thỏa thuận về tài sản chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là có căn cứ.

[6] Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Tô Thị Ánh T xác định bà và ông Trương Văn H không có nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là có căn cứ.

[7]. Về án phí: Bà Tô Thị Ánh T phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Ông Trương Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[8]. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Tô Thị Ánh T được ly hôn với ông Trương Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Huỳnh Ánh L, sinh ngày 14/01/2016 cho bà Tô Thị Ánh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Trương Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Trương Văn H mà không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Bà Tô Thị Ánh T xác định bà và ông Trương Văn H đã tự thỏa thuận về tài sản chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hộiđồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Tô Thị Ánh T xác định bà và ông Trương Văn H không có nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Tô Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005999 ngày 22/9/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Tô Thị Ánh T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trương Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNGXÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩmphán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ