vanban.org

Bản án 08/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H, cho ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Phan Mạnh Long E.

Về việc nuôi con: 1. Chị Lê Thị H được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phan Thị Kim N, sinh ngày 19/10/2011. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị H và anh E"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H, cho ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Phan Mạnh Long E.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23-02-2021
V/v tranh chấp ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

2. Bà Lê Kim Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2020, về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXX-ST ngày 18 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1980; Địa chỉ nơi cư trú: xã TL, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Anh Phan Mạnh Long E, sinh năm 1978; Địa chỉ nơi cư trú: xã LKA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/12/2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày: Chị và anh Phan Mạnh Long E cưới nhau vào năm 2010, trước khi cưới anh chị đã có tìm hiểu nhau rồi mới tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LKA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới thì vợ chồng chị sống chung với gia đình anh Long E, được một thời gian thì vợ chồng đi thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng từ đi làm công nhân thì anh Long E thường xuyên uống rượu, bia, chửi và đánh đập vợ con, nên từ đầu năm 2018 thì hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau nữa, trong thời gian không còn sống chung giữa chị và anh Long E không có gặp nhau để hàn gắn. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Long E. Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Thị Kim N, sinh ngày 19/10/2011, hiện cháu đang sống với chị, nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Long E cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị và anh Long E chung sống không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị và anh Long E chung sống không nợ ai và không ai nợ vợ chồng anh chị, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phan Mạnh Long E, Toà án đã triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại bản khai ngày 31/12/2020, cháu Phan Thị Kim N trình bày: “Ba với mẹ ly hôn, nguyện vọng ở với mẹ”.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị H được ly hôn với anh Phan Mạnh Long E; về con chung: giao con chung Phan Thị Kim N, sinh ngày 19/10/2011 cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng và anh Long E không phải cấp dưỡng do chị H không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

[2] Nguyên đơn chị Lê Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Mạnh Long E đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Phan Mạnh Long E là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh Long E, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của chị H thì cuộc sống của chị và anh Long E không còn hạnh phúc từ khi vợ chồng bắt đầu đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, do anh Long E thường xuyên uống rượu, bia, chửi và đánh đập vợ con, nên từ đầu năm 2018 thì hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau nữa, trong thời gian không còn sống chung giữa chị và anh Long E không có gặp nhau để hàn gắn. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị H và anh Long E hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Khi vợ hoặc chồng yêu cẩu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Lê Thị H ly hôn với anh Phan Mạnh Long E.

Về việc nuôi con: Chị Lê Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Phan Thị Kim N, sinh ngày 19/10/2011 và không yêu cầu anh Long E cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Kim N từ khi chị H và anh Long E không còn sống chung và hiện nay đều do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và để ổn định việc sinh hoạt của cháu cũng như nguyện vọng của cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Long E không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị H cho rằng không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh Phan Mạnh Long E không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H, cho ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Phan Mạnh Long E.

2. Về việc nuôi con:

2.1. Chị Lê Thị H được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phan Thị Kim N, sinh ngày 19/10/2011.

2.2. Anh Phan Mạnh Long E không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị H chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003099 ngày 11/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ