vanban.org

Bản án 08/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm L, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm L được ly hôn với anh Phạm Danh M. Về con chung: Giao con Phạm Thị Tú A, sinh ngày 21/4/2019 cho chị Lê Thị Cẩm L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Danh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ-ST"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm L, tuyên xử:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29-7-2021
V/v xin ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Luân

Ông Bùi Quang Huân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2021 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 55/2021/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXX-ST ngày 14 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1994 (Có mặt)

Trú tại: Xóm 2, xã Kỳ V, huyện Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh.

2. Bị đơn: Anh Phạm Danh M, sinh năm 1999 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn 10, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Lê Thị Cẩm L cũng như các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và trình bày của chị L tại phiên tòa, vụ án có nội dung: Chị và anh Phạm Danh M sau khi chung sống với nhau như vợ chồng một thời gian thì đăng ký kết hôn ngày 19/6/2019 tại UBND xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, anh M không có trách nhiệm gì với gia đình, có thái độ coi thường chị, chị và anh M sống ly thân hơn một năm nay, không ai tìm cách níu kéo, hàn gắn tình cảm. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Phạm Danh M.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh Phạm Danh M có 01 con chung là Phạm Thị Tú A, sinh ngày 21/4/2019. Theo chị L, chị và anh M sống chung với nhau có con chung rồi sau đó mới đăng ký kết hôn. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh M đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, biên bản làm việc và các tài liệu chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Danh M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh M thống nhất như chị L trình bày, vợ chồng có đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị L có dấu hiệu ngoại tình, vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Nay chị L yêu cầu giải quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý vì không còn tình cảm với chị L, mục đích hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thị Tú A, sinh ngày 21/4/2019, anh M cũng có nguyện vọng muốn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tại phiên tòa các thành viên Hội đồng xét xử đã có mặt đầy đủ, không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng; Quá trình xét xử đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng; Tòa án đã tiến hành tống đạt, thu thập tài liệu, chứng cứ đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nhưng quá trình giải quyết vụ án đã đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có tại vụ án và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Lê Thị Cẩm L và anh Phạm Danh M đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, cả hai đồng ý ly hôn. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử cho chị Lê Thị Cẩm L được ly hôn với anh Phạm Danh M; Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Cẩm L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Tú A, sinh ngày 21/4/2019 đến tuổi trưởng thành, anh Phạm Danh M không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản; Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Buộc chị Lê Thị Cẩm L phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Cẩm L có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Danh M. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Phạm Danh M có nơi đăng ký HKTT và chổ ở: thôn 10, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Danh M vắng mặt nhưng quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Thị Cẩm L và anh Phạm Danh M đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 19/6/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị L nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, anh M không có trách nhiệm gì với gia đình, có thái độ coi thường chị. Từ năm cuối năm 2020 đến nay vợ chồng sống ly thân, thời gian gần đây không liên lạc gì với nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị có nguyện vọng được ly hôn, giải phóng cho hai người để mỗi người có cuộc sống riêng, tốt đẹp hơn. Quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Danh M cũng cho biết, nay anh không còn tình cảm gì đối với chị L, không tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh cũng đồng ý ly hôn.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau… nhưng hôn nhân giữa chị Lê Thị Cẩm L và anh Phạm Danh M không đạt được mục đích đó, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Cẩm L, xử cho chị được ly hôn với anh Phạm Danh M.

[2.2] Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Cẩm L và anh Phạm Danh M xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thị Tú A, sinh 21/4/2019, hiện nay con đang sinh sống với chị L. Chị L và anh M đều có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con sau khi ly hôn; các bên trình bày là có khả năng và đảm bảo kiều kiện để nuôi con; anh M không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì, chị L cung cấp xác nhận công việc, thu nhập hàng tháng và các điều kiện khác. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con của các bên là chính đáng, tuy nhiên từ khi vợ chồng ly thân đến nay, chị L là người đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, anh M không chu cấp nuôi con, hiện nay con đang dưới 36 tháng tuổi, chị L có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Phạm Thị Tú A cho chị Lê Thị Cẩm L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp, anh Phạm Danh M không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng thống nhất không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo luật định.

[4] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm L, tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm L được ly hôn với anh Phạm Danh M.

- Về con chung: Giao con Phạm Thị Tú A, sinh ngày 21/4/2019 cho chị Lê Thị Cẩm L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Danh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

2. Về án phí: Buộc chị Lê Thị Cẩm L phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên theo biên lai thu tiền số 0005547 ngày 04/6/2021. Tiền án phí ly hôn sơ thẩm chị Lê Thị Cẩm L đã nộp đủ.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ