vanban.org

Bản án 08/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 03/03/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị V đối với ông Voisard Robert K.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Dương Thị V được ly hôn với ông Voisard Robert K. Về án phí: Bà Dương Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) the… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị V đối với ông Voisard Robert K.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/HNGĐ-ST
Ngày 03-3-2021
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hà Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hà.

Ông Nguyễn Viết Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Hồng Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 79/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2019 về việc ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị V; cư trú tại: đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam.

- Bị đơn: Ông Voisard Robert K; cư trú tại: Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Dương Thị V, trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Voisard Robert K quen biết, tìm hiểu nhau qua mạng xã hội và đã tự nguyện đăng ký kết hôn theo pháp luật Việt Nam; được Ủy ban nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12-9-2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Đà Nẵng được gần một tháng thì ông Voisard Robert K trở về Hoa Kỳ còn bà vẫn ở tại Việt Nam; từ đó đến nay ông Voisard Robert K chưa trở lại Việt Nam lần nào cũng như bà không thể qua Hoa Kỳ để gặp ông. Trong năm đầu thì vợ chồng còn liên lạc với nhau, nhưng sau đó thì liên lạc thưa dần và qua tìm hiểu thì bà được biết hiện ông Voisard Robert K đã chung sống như vợ chồng với người khác tại Hoa Kỳ. Đến nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng với nhau nữa nên nguyện vọng của bà là được ly hôn với ông Voisard Robert K.

- Về con chung: Bà và ông Voisard Robert K không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông Voisard Robert K không có tài sản chung và nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Voisard Robert K không có văn bản phản hồi cho Tòa án về yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị V, cũng như không đến tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là tuân thủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 126 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị V đối với ông Voisard Robert K.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn bà Dương Thị V là công dân Việt Nam; có địa chỉ cư trú tại đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam và bị đơn ông Voisard Robert K; quốc tịch: Hoa Kỳ; cư trú tại địa chỉ: Hoa Kỳ, nên vụ án về ly hôn thuộc thẩm quyền chung của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, theo quy định tại các Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 464 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài là bị đơn ông Voisard Robert K theo pháp luật tương trợ tư pháp. Cụ thể, Tòa án đã ủy thác cho Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ cấp tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Dương Thị V đối với ông Voisard Robert K và yêu cầu ông Voisard Robert K gửi văn bản phản hồi cho Tòa án; đồng thời, thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; cũng như thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên tòa, theo quy định tại Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án thì ông Voisard Robert K không đến Tòa án để tham gia tố tụng, cũng như không gửi lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Đến ngày mở phiên tòa lần thứ nhất thì ông Voisard Robert K không có mặt và Tòa án cũng không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cho ông Voisard Robert K nên Tòa án đã hoãn phiên tòa và có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài, theo quy định tại khoản 4 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, sau thời hạn 03 tháng Tòa án vẫn không nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền về kết quả tống đạt. Do các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự không có kết quả nên Tòa án đã thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài là Ban đối ngoại (VOV5), Đài tiếng nói Việt Nam về thời gian, địa điểm mở phiên tòa xét xử vụ án xin ly hôn của bà V đối với ông Voisard Robert K, theo quy định tại khoản 3 Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Voisard Robert K, theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu xin ly hôn ông Voisard Robert K của bà Dương Thị V thì thấy, mâu thuẫn giữa ông bà bắt nguồn từ việc mỗi người sống một nơi, vợ chồng không thể sống gần nhau để yêu thương, chăm sóc cho nhau và cho gia đình, nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Đến nay, ông bà không còn tình cảm vợ chồng đối với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu xin ly hôn ông Voisard Robert K của bà V là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Ông Voisard Robert K và bà Dương Thị V không có con chung; không có tài sản chung; không có nợ chung, nên Tòa án không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình bà Dương Thị V phải chịu, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài bà Dương Thị V phải chịu, theo quy định tại Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 153, Điều 464, Điều 469, Điều 474, khoản 4 và điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị V đối với ông Voisard Robert K.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Dương Thị V được ly hôn với ông Voisard Robert K.

2. Về án phí: Bà Dương Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 001961 ngày 31 tháng 10 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Bà Dương Thị V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai số 001977 ngày 12 tháng 11 năm 2019, của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; bà V đã nộp đủ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

4. Về chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp thanh toán cho cơ quan được ủy thác tư pháp: Bà Dương Thị V phải chịu 2.550.000 đồng (Hai triệu, năm trăm năm mươi ngàn đồng), bà V đã nộp tiền và đã chi thanh toán cho Công ty ABC Legal Services, Hoa Kỳ, theo Chứng từ ngày 12-11-2019 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Chi nhánh thành phố Đà Nẵng.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Dương Thị V có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Voisard Robert K không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ