- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Kiềm- Ngô Bình An- chia thừa kế"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26; khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 609 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/DS- ST Ngày: 12/3/2021 “V/v trAh chấp thừa kế” |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ A
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Hoàng Thế L
- Các hội thẩm nhân dân: 1. ông Nguyễn Đức A
2. bà Nguyễn Thị Trà G
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu H- Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A tham gia phiên tòa: bà PhA Thị Vân A- Kiểm sát viên
Ngày 12/3/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 20/2020/TLST- DS ngày 03/7/2020 về việc trAh chấp thừa kế, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐXXST- DS ngày 18/02/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1955
Trú tại: Khối 1, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A. (Có mặt)
2. Bị đơn: ông Ngô Bình A (tên thường gọi: Kỳ), sinh năm 1985
Trú tại: xóm Thanh Ph, xã Đại Đ, huyện Thanh Ch, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt).
3. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
- chị Ngô Thị Thúy L, sinh năm 1984
Trú tại: Tổ 25, phường Lĩnh N, quận Hoàng M, TP Hà Nội. (Vắng mặt)
- Ah Ngô Minh T, sinh năm 1990
Trú tại: khối 1, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A. (vắng mặt )
- Ah Ngô Minh H, sinh năm 1992
Trú tại: Khối 1, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A. (vắng mặt)
- Chị Ngô Thúy Th, sinh năm 1994
Trú tại: Khối 1, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A. (vắng mặt)
Chị L, Ah T, Ah H và chị Th ủy quyền cho bà Nguyễn Thị K tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền đề ngày 23/7/2020).
- Ah La Minh H1 (Ngô Minh H1), sinh năm 1988
Đăng ký HKTT: Số nhà 133, ấp Thới Bình, xã Xuân Thắng, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ. (vắng mặt)
- Bà Ngô Thị M, sinh năm 1951. (Vắng mặt).
Trú tại: Số nhà 209 K8, phường Thành Công, quận Ba Đình, TP Hà Nội.
- Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân D, phó giám đốc (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 21/7/2020).
- Ngân hàng TMCP ngoại thương chi nhánh Nghệ An- phòng giao dịch Cửa Lò.
Đại diện ủy quyền: ông Trịnh Nam Th (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 21/7/2020).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/6/2020 và tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, lời trình bày tại Tòa án, nguyên đơn- bà Nguyễn Thị K trình bày: Chồng bà là ông Ngô Phương N, mất ngày 03/11/2019 theo trích lục khai tử số 23/2019/TLKTdo UBND phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, Nghệ An cấp ngày 13/11/2019. Khi mất ông Ngô Phương N không để lại di chúc, việc phân chia tài sản không thống nhất giữa bà và Ah Ngô Bình A (hay còn gọi là Kỳ) là con riêng của ông N. Vợ chồng bà kết hôn năm 2009 có 03 người con là Ngô Minh T, Ngô Minh H và Ngô Thúy Th; ông Ngô Phương N có 03 con riêng với bà vợ đầu (là bà Phạm Thị Ng) là Ngô Thị Thúy L, Ngô Bình A và cháu H1 (cháu H1 sống cùng bà Phạm Thị Ng nên bà không biết được cụ thể). Ngoài ra ông Ngô Phương N không có con đẻ, hoặc con nuôi cũng như người thừa kế nào khác.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà tạo lập được nhà 3 tầng trên thửa đất có diện tích 110m2 thuộc thửa đất số 558, tờ bản đồ số 05 tại khối 1, phường Thu Th, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đã được UBND thị xã Cửa Lò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 112366 ngày 26/4/2013. Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất mang tên ông Ngô Phương N và bà Nguyễn Thị K. Ngoài ra ông N còn 01 sổ tiết kiệm có kỳ hạn số AC 0004215321 với số tiền gốc là 300.000.000đ(Ba trăm triệu đồng) mang tên Ngô Phương N, tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cửa Lò và số tiền lương hưu tại thẻ ATM do Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Cửa Lò, số 97043668 10075822021 mang tên Ngô Phương N. Ngoài ra không có tài sản nào khác. Nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị K làm đơn yêu cầu Tòa án chia ½ di sản thừa kế của ông Ngô Phương N để lại theo quy định pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Ngô Bình A trình bày: anh hoàn toàn đồng ý với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ giữa ông N với bà K, cũng như thời gian ông N mất. Về hàng thừa kế anh A trình bày ông N có 03 người con với mẹ đẻ anh (là bà Phạm Thị Nga) gồm chị Ngô Thị Thúy L, anh và em Ngô Minh H1, sinh năm 1990, hiện sống cùng mẹ (bà Ng) tại Cần Thơ. Di sản do ông Ngô Phương N để lại bao gồm ½ nhà, tiền lương trong thẻ ATM và tiền tiết kiệm gốc 300.000.000đ đất như bà K trình bày. Ngoài ra anh A trình bày ông N và bà K bán thửa đất tại Cần Thơ với số tiền 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng) hiện do bà Ngô Thị M (chị gái của ông N) đang quản lý. Anh Ngô Bình A đồng ý chia di sản do ông N để lại theo quy đinh pháp luật. Phần tài sản anh được hưởng, anh cho em trai là Ngô Minh H.
Trong quá trình giải quyết vụ án những người liên quan gồm chị Ngô Thị Thúy L, Ngô Minh T, Ngô Minh H và chị Ngô Thúy Th trình bày: Mọi người đều đồng ý với ý kiến trình bày của bà Nguyễn Thị K về quan hệ giữa bà K với ông N, thời gian ông N mất, cũng như phần di sản do ông N để lại. Đồng ý chia di sản thừa kế và phần hưởng của các anh chị đều nhường lại cho bà Nguyễn Thị K sở hữu và sử dụng. Hàng thừa kế các anh T, H và chị Th không đồng ý với ý kiến của anh A là giữa ông N với bà Nga còn có đứa con chung là anh Ngô Minh H1, sinh năm 1990. Chị Ngô Thúy L trình bày ông N và mẹ chị có 03 người con gồm chị, em A và em H1.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Ngô Thị M trình bày: Bà là chị gái ông Ngô Phương N, thửa đất mà ông N bà K ủy quyền cho bà bán tại Cần Thơ là tài sản chung của ông N bà K và bà đã bán được với số tiền 600.000.000đ. Trong quá trình ông N điều trị bệnh số tiền trên đã được chi hết nay không còn nữa. Nếu anh A không đồng ý bà sẻ trả lại ½ số tiền trên cho bà K, ½ còn lại bà trả cho các thừa kế.
Quá trình giải quyết vụ án, ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Nghệ An- phòng giao dịch Cửa Lò có văn bản cung cấp thông tin: “khách hàng Ngô Phương N, số CMND xxx.xxx.xxx do Công An Nghệ An cấp ngày 16/5/2015 mở thẻ ATM của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Nghệ An để trả lương bảo hiểm ngày 24/8/2015, số tài khoản 0101001128094, số dư tại thời điểm ngày 21/7/2020 là 29.696.846đ” (Sau đây gọi tắt là thẻ ATM số tài khoản 0101001128094). Tại văn bản số 180 ngày 21/7/2020, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)- chi nhánh thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An cung cấp thông tin: “khách hàng Ngô Phương N, số CMND xxx.xxx.xxx do Công An Nghệ An cấp ngày 16/5/2015 có gửi tiết kiệm tại Agribank- chi nhánh thị xã Cửa Lò, ngày gửi 23/5/2019, loại tiền tệ VNĐ, kỳ hạn gửi 01 tháng, số sổ tiết kiệm AC00014215321, số tiền gốc gửi 300.000.000đ, số tiền gốc đến ngày 21/7/2020 là 314.495.900đ” (sau đây gọi tắt là sổ tiết kiệm số AC00014215321). Cả hai ngân hàng đều đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và HĐXX trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, đúng thời hạn, không có vi phạm gì; Việc xét xử tại phiên tòa đảm bảo, khách quan, đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà K, chia phần di sản thừa kế do ông N để lại (là ½ ngôi nhà 3 tầng trên thửa đất 558 tờ bản đồ 05 diện tích 110m2 tại khối 1, phường Thu Th, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An + số tiền trong thẻ lương ATM mang tên Ngô Phương N tại Ngân hàng ngoại thương Cửa Lò) thành 7 phần bằng nhau cho 7 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông N (gồm bà K, anh A, anh H, anh T, chị L, chị Th và anh La Minh H1); tạm giao phần di sản mà anh H1 được hưởng cho chị L quản lý; Ghi nhận sự tự nguyện của anh A tặng cho anh H phần di sản mà anh A được hưởng từ ông N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong H1 sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn và bị đơn tranh chấp về chia thừa kế là quyền sử dụng đất tại khối 1, phường Thu Th, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A. Do đó Toà án nhân dân thị xã cửa Lò, tỉnh Nghệ A thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền (Khoản 5, Điều 26; Điểm a, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).
.Về thời hiệu khởi kiện: Ông Ngô Phương N mất ngày 03/11/2019. Căn cứ Điều 623 Bộ luật dân sự thì khởi kiện chia thừa kế đang trong thời hiệu.
. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Đại diện ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Nghệ An- phòng giao dịch Cửa Lò; Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam- chi nhánh Cửa Lò và chị Ngô Thị Thúy L có yêu cầu và đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Ngô Bình A, anh La Minh H1 và bà Ngô Thị M vắng mặt không có lý do. Phiên tòa triệu tập lần thứ hai. Căn cứ vào điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
. Về nội dung vụ án: Căn cứ lời khai của các đương sự, các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án có cơ sở xác định:
. Người để lại di sản thừa kế là: Ông Ngô Phương N mất ngày 03/11/2019. Ông N chết nhưng không để lại di chúc.
. Hàng thừa kế và người được hưởng di sản thừa kế: bà Nguyễn Thị K (Vợ); các con gồm Ngô Thị Thúy L, Ngô Bình A (Kỳ), Ngô Minh T, Ngô Minh H và Ngô Thúy Th. Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án anh Ngô Bình A và chị Ngô Thị Thúy L có khai nại rằng giữa ông Ngô Phương N và bà vợ trước là Phạm Thị Ng (Mẹ đẻ của anh, chị) còn có người con thứ ba là anh Ngô Minh H1, sinh năm 1990, hiện sống cùng bà Ng tại Cần Thơ. Qua địa chỉ mà anh A cung cấp, Tòa án đã ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, TP Cần Thơ, cũng như UBND, Công A xã Xuân Thắng, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ. Qua ủy thác xác định như sau: anh H1 có họ La, tên đầy đủ là La Minh H1, sinh năm 1988, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Thới Bình, xã Xuân Thắng, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ, quan hệ với chủ hộ bà Phạm Thị Ng, sinh năm 1964 là con. Hiện tại anh La Minh H1, bà Nga vắng mặt tại địa phương do vậy không tống đạt được các văn bản tố tụng, cũng như không nhận được thông tin mà các đương sự cung cấp liên quan đến vụ án. Theo quyết định ủy thác thu thập chứng cứ, công an Đức Hòa, tỉnh Long A trả lời anhLa Minh H1 không có đăng ký tạm trú tại địa chỉ số 13 Bình Tiến 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Do vậy không tiến hành thu thập chứng cứ như yêu cầu.
Theo bà Nguyễn Thị K, khi bà lấy ông N thì bà chỉ biết ông N có hai người con chung với bà vợ trước là cháu L và cháu A, bà cũng không biết giữa ông N và bà Ng còn có thêm đứa con chung nữa là cháu H1. Nhưng tại biên bản làm việc ngày 05/01/2021 và tại phiên tòa bà đồng ý với ý kiến của chị L và anh A, thừa nhận cháu H1 là con chung của ông N và bà Ng, thống nhất đưa cháu H1 vào hàng thừa kế của ông N. Do vậy, có căn cứ chấp nhận anh La Minh H1 thuộc hàng thừa kế thứ nhất (điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS). Hiện tại anh H1 không có mặt tại địa phương, các đương sự không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú mới. Do vậy phần di sản mà anh H1 được hưởng tạm giao cho chị gái của anh H1 là chị Ngô Thị Thúy L quản lý (điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ- HĐTP ngày 5/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao).
. Di sản thừa kế: Nguồn gốc di sản của ông Ngô Phương N là ½ tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị K và ông N tạo lập. Căn cứ biên bản hòa giải các bên đương sự thống nhất di sản do ông Ngô Phương N để lại gồm: ½ giá trị thửa đất hiện nay đang sử dụng có diện tích 110m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Ngô Phương N và bà Nguyễn thị K và ½ giá trị các tài sản trên đất là 01 ngôi nhà 3 tầng và các công trình phụ khác. Căn cứ vào biên bản định giá tài sản ngày 20/08/2020 tổng giá trị tài sản chung của ông N bà K bao gồm đất và tài sản trên đất là: 1.506.344.800đồng (Một tỷ,năm trăm linh sáu triệu, ba trăm bốn mươi bốn nghìn, tám trăm đồng). Hiện nay di sản này của ông Ngô Phương N để lại đang do bà Nguyễn Thị K quản lý. Ngoài ra, di sản do ông N để lại được đưa vào chia thừa kế còn có số tiền lương trong thẻ ATM số tài khoản 0101001128094, số dư đến thời điểm ngày 12/3/2021 là 29.699.179đ (tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Nghệ An). Vậy di sản do ông N để lại gồm ½ giá trị nhà và đất + tiền lương tại ngân hàng là: 782.871.579đ (753.172.400đ + 29.699.179đ).
Về sổ tiết kiệm số AC00014215321 (số tiền gốc đến ngày 12/3/2021 là 321.633.600đ) tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam- chi nhánh thị xã Cửa Lò mang tên ông Ngô Phương N: các đồng thừa kế thống nhất số tiền trên là tiền công của chị Ngô Thị Thúy L và Ngô Thúy Th (ông N đứng ra gửi tiết kiệm giúp). Do vậy, thống nhất giao cho bà K nhận và trả lại cho hai chị L và Th.
Theo khai nại của anh Ngô Bình A về số tiền 600.000.000đ bán đất tại Cần Thơ do bà Ngô Thị M quản lý. Theo biên bản hòa giải, bà M và anh A thống nhất số tiền trên đã chi hết trong quá trình chữa bệnh cho ông N nay không yêu cầu. Do vậy hội đồng xét xử không xem xét.
. Căn cứ chia di sản thừa kế: Ông Ngô Phương N mất không để lại di chúc, di sản thừa kế mà ông N để lại là ½ tài sản chung giữa ông và bà K (nhà đất) hiện do bà K đang quản lý, sử dụng và tiền lương của ông trong tài khoản tại ngân hàng (tổng giá trị 782.871.579đ), các đồng thừa kế chưa phân chia nay có tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật là có căn cứ chấp nhận. Bà K và anh T hiện đang sinh sống quản lý và sử dụng các tài sản trên, các đồng thừa kế còn lại đều sinh sống ở nơi khác và không có nhu cầu về nhà ở. Do vậy, giao phần di sản thừa kế của ông N để lại cho bà K sử dụng và sở hữu, chia cho các thừa kế theo kỷ phần bằng giá trị, mỗi người được hưởng bằng 1/7 giá trị di sản do ông N để lại (Tương đương giá trị mỗi kỷ phần là: 111.838.797đ).
. Phân chia di sản:
Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ diện tích đất, hiện trạng việc sử dụng đất, các công trình, vật kiến trúc có trên đất theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 20/08/2020, căn cứ vào ý kiến của các đồng thừa kế gồm chị Ngô Thị Thúy L, anh Ngô Minh T, anh Ngô Minh H và chị Ngô Thúy Th thì các kỷ phần của các anh, chị đều nhường lại cho bà Nguyễn Thị K. Đối với kỷ phần mà anh Ngô Bình A được hưởng từ di sản của ông N, anh nhường lại cho em Ngô Minh H. Việc nhượng lại di sản thừa kế của các đồng thừa kế là hoàn toàn tự nguyện không trái đạo đức nghĩ nên chấp nhận. Giao toàn bộ tài sản cho bà Nguyễn Thị K sở hữu và sử dụng bao gồm nhà 3 tầng, các công trình phụ trên diện tích đất 110 m2 thuộc thửa số 558, tờ bản đồ số 05 tại khối 1, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An (đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Ngô Phương N và bà Nguyễn Thị K). Bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ trả cho anh Ngô Minh H số tiền 111.838.797đ (Phần do anh Ngô Bình A nhường lại cho anh H) và trả cho anh La Minh H1 số tiền 111.838.797đ. Kỷ phần của anh La Minh H1 được hưởng được tạm giao cho chị L quản lý và giải quyết bằng vụ án khác khi anh H1 có yêu cầu.
. Về chi phí tố tụng: Sau khi có yêu cầu, đương sự đã nộp 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) tiền tạm ứng về xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản Tòa án đã sử dụng hết số tiền trên. Tại phiên tòa hôm nay đương sự không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Những người được hưởng kỷ phần di sản thừa kế phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị K là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, bà thuộc đối tượng miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1 ngày 31/12/2016, do đó miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị K.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 609; 610; 611; 612; 614; 623; 649; 650 và Điều 651 của Bộ luật dân sự năm 2015. Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5/5/2017.
- Điều 167 Luật đất đai năm 2013;
- Khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147 BLTTDS.
- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26; khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia thừa kế theo quy định pháp luật đối với di sản của ông Ngô Phương N để lại là ½ giá trị tài sản chung của ông và bà K (diện tích đất 110 m2 và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 558, tờ bản đồ số 05 tại khối 1, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A) và số tiền lương trong thẻ ATM số tài khoản 0101001128094 (số dư đến thời điểm ngày 12/3/2021 là 29.699.179đ). Tổng giá trị di sản chia thừa kế là 782.871.579đ.
Tạm giao cho bà Nguyễn Thị K được quyền sử dụng diện tích đất 110 m2 tại thửa đất số 558, tờ bản đồ số 05 tại khối 1, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A và các tài sản gắn liền trên đất có tổng trị giá: 1.506.344.800đ. Thửa đất có tứ cận, ranh giới như sau: phía Bắc giáp thửa số 557 dài 14,5m; phía N giáp thửa số 412 dài 15,6m; phía Đông giáp thửa đất 582, 583 rộng 7,31m và phía Tây giáp đương đi rộng 7,38m.
2. Giao cho bà Nguyễn Thị K sở hữu thẻ ATM mang tên Ngô Phương N, số tài khoản 0101001128094 mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Nghệ An (số dư đến thời điểm ngày 12/3/2021 là 29.699.179đ).
3. Giao cho bà Nguyễn Thị K được sở hữu sổ tiết kiệm số AC00014215321 mang tên ông Ngô Phương N (số tiền gốc đến ngày 12/3/2021 là 321.633.600đ) mở tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam- chi nhánh thị xã Cửa Lò. Bà K có nghĩa vụ giao lại cho chị Ngô Thị Thúy L và chị Ngô Thúy Th toàn bộ số tiền trong sổ tiết kiệm trên ngay sau khi tất toán tại Ngân hàng.
4. Bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ trả lại cho anh Ngô Minh H số tiền 111.838.797đ (Phần được hưởng của anh Ngô Bình A nhường lại cho anh H) và trả cho anh La Minh H1 số tiền 111.838.797đ (được tạm giao cho chị Ngô Thị Thúy L quản lý).
Sau khi án có hiệu lực pháp luật bà Nguyễn Thị K có quyền đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm các thủ tục để cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nhận tiền từ thẻ ATM mang tên Ngô Phương N, số tài khoản 0101001128094 mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Nghệ An và sổ tiết kiệm số AC00014215321 mang tên ông Ngô Phương N mở tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam- chi nhánh thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
5. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị K.
anh La Minh H1, anh Ngô Minh T, chị Ngô Thị Thúy L và chị Ngô Thúy Th mỗi người phải chịu 5.591.923đ án phí chia thừa kế; anh Ngô Minh H phải chịu 11.183.846đ án phí chia thừa kế.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quA thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã Cửa Lò; - Chi cục THA dân sự TX Cửa Lò; - TAD tỉnh Nghệ An; - Lưu hồss sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thế L |