vanban.org

Bản án 08/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần S Buộc bà Nguyễn Thị Mai T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S số tiền vốn là 12.

Kể từ ngày 09/01/2021 bà Nguyễn Thị Mai T còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh với mức lãi suất nợ quá hạn trên số vốn gốc 12.530.000đ (Mười hai triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng) cho đến khi thi hành án xong. Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần S Buộc bà Nguyễn Thị Mai T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S số tiền vốn là 12.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 08/2021/DS-ST
Ngày: 04/02/2021
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Phước

2. Bà Diệp Thu Nguyệt

-Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh - là Thư ký tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 184/2020/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2020/QĐST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2021/QĐST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Địa chỉ: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Người đại diện theo ủy quyền của bà Diễm: Ông Trần Minh S, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Chi nhánh An Giang (theo Giấy ủy quyền số 1186/2020/GUQ-PL ngày 07/5/2020). Địa chỉ: 333 Trần Hưng Đạo, phường Mỹ Quí, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;

Ông Trần Minh S ủy quyền lại cho ông Nguyễn Văn B, chức vụ: Phó phòng giao dịch Phú Hòa, chi nhánh An Giang. Địa chỉ liên lạc: 222 Trần Phú, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (Theo Giấy ủy quyền ngày 21/7/2020).

-Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp Trung Bình 2, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, cũng như tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thuơng Tín trình bày:

Ngày 14/6/2018, bà Nguyễn Thị Mai T có đến Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín ký Hợp đồng tín dụng số LD1816500187 vay số tiền là 20.000.000đ, mục đích vay vốn để tiêu dùng, thời hạn vay cụ thể theo Giấy nhận nợ số LD1914000563 ngày 14/6/2018 là 24 tháng, ngày đáo hạn 23/6/2020 số tiền vay 20.000.000đ, lãi suất vay 24%/năm (điều chỉnh lại 20%), phương thức trả nợ: Lãi hàng tháng, vốn hàng tháng.

Trong quá trình vay đã trả được tiền vốn và lãi 10.539.717đ. Số tiền còn lại thì không trả nữa, tính đến ngày 08/01/2021 bà T còn nợ Ngân hàng tiền vốn là 12.530.000đ và tiền lãi 11.685.198đ, tổng cộng là 24.215.198đ. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng đến nay bà Tvẫn chưa Ttoán vốn và lãi cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký.

Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên đại diện cho Ngân hàng yêu cầu bà T phải trả cho Ngân hàng số tiền tiền vốn là 12.530.000đ và tiền lãi 11.685.198đ, tổng cộng là 24.215.198đ và phải chịu tiền lãi phát sinh tiếp tục cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Trong quá trình giải quyết, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ bà Ttheo quy định pháp luật nhưng bà Tkhông đến tham gia phiên hòa giải, cũng không gửi văn bản ghi ý kiến mà không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và không ghi nhận ý kiến của bà T được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, các bên thống nhất được số tiền còn thiếu, căn cứ vào hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị Mai T đã được Tòa án tống đạt Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ theo quy định pháp luật, nhưng bà T vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà T.

Về nội dung: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Mai T phải có trách nhiệm trả số tiền vốn là 12.530.000đ và tiền lãi tính đến ngày 08/01/2021 là 11.685.198đ, tổng cộng là 24.215.198đ. Bà T có ký hợp đồng vay số tiền vốn 20.000.000đ của Ngân hàng. Xét Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S với bà T có giao kết hợp đồng vay vốn. Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S yêu cầu bà T phải trả số tiền còn thiếu là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S buộc bà T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền vốn là 12.530.000đ và tiền lãi 11.685.198đ, tổng cộng là 24.215.198đ và phải chịu tiền lãi phát sinh tiếp tục cho đến khi Ttoán dứt nợ.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do bị buộc trả nợ nên bà T phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điều 463, Điều 466, và Điều 468 của BLDS 2015, Điều 35, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ lụât tố tụng dân sự 2015; khoản 2 điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án.

- Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần S Buộc bà Nguyễn Thị Mai T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S số tiền vốn là 12.530.000đ và tiền lãi 11.685.198đ, tổng cộng là 24.215.198đ (Hai mươi bốn triệu hai trăm mười lăm ngàn một trăm chín mươi tám đồng).

Kể từ ngày 09/01/2021 bà Nguyễn Thị Mai T còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh với mức lãi suất nợ quá hạn trên số vốn gốc 12.530.000đ (Mười hai triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng) cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Mai T phải chịu 1.210.759đ (Một triệu hai trăm mười ngàn bảy trăm năm mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng Thương Mại cổ phần S được nhận lại 470.000đ (Bốn trăm bảy mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004041, ngày 21/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ