vanban.org

Bản án 08/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng Tuyên án 20/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang C 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12 tháng 11 năm 2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang C 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12 tháng 11 năm 2019.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:08/2020/HSST
Ngày: 20/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Định.

Các Hội thẩm:

1. Bà Bùi Thu Lan.

2. Ông Nguyễn Tiến Hưng.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, Hải Phòng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tài – Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão.

Ngày 20 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang C, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1984; tại Hải Phòng. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn T, xã H, huyện K, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Nguyễn Hữu N, sinh năm: 1951; con bà: Đoàn Thị Đ (đã chết). Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 12/11/2019, chuyển tạm giam từ ngày 14/11/2019. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1957. Vắng mặt.

+ Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1972. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 12/11/2019, Nguyễn Quang C đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà đến thôn K, xã M, huyện A, Hải Phòng để mua ma túy sử dụng. Đến nơi, C đi bộ vào nhà một đối tượng tên Tr, hỏi mua 03 gói ma túy với giá 290.000 đồng. Tr nhận tiền, đưa ma túy cho C. C cầm ma túy cho vào túi quần trước bên phải, đi bộ ra đường trục thôn Kim Châm thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ 03 gói ma túy, 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu HOA VIỆT và số tiền 150.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 574/KLGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: "Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1058 gam, là loại Heroin."

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 17/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang C từ 18 đến 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị các vấn đề xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với quy định của pháp luật.

- Về tội danh đối với hành vi của bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do nghiện ma túy nên ngày 12/11/2019, Nguyễn Quang C đã có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói nhỏ chất bột màu trắng qua giám định kết luận là chất ma túy heroin, có trọng lượng 0,1058 gam, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận Nguyễn Quang C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện, các chất hướng thần, đồng thời còn gây mất trật tự trị an xã hội.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung:

Căn cứ tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Lượng ma túy heroin bị cáo tàng trữ trái phép là 0,1058 gam, gần với mức khởi điểm về lượng ma túy heroin tàng trữ trái phép quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên mức án Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Ngoài hình phạt chính thì bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo hiện không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Lượng ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là 0,0745 gam được niêm phong trong phong bì thư số 574/2019/PC09 là vật nhà nước cấm tàng trữ; 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu HOA VIỆT bị cáo dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 150.000 đồng là tiền của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về các vấn đề khác

Đối với người xe ôm chở bị cáo đi từ nhà đến thôn Kim Châm, xã Mỹ Đức, huyện An Lão mua ma túy, bị cáo khai là người không quen biết, cơ quan điều tra không xác minh được lai lịch địa chỉ nên không có cơ sở xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng tên Tr bán ma túy cho bị cáo, qua điều tra đã xác định được là Vũ Thị Thúy L, sinh năm 1983, địa chỉ: thôn K, xã M, huyện A. Liễu đã bị khởi tố, điều tra trong một vụ án hình sự khác về hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" trong đó có hành vi bán ma túy cho C ngày 12/11/2019. Hiện tại vụ án vẫn đang trong giai đoạn điều tra, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang C 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12 tháng 11 năm 2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định là 0,0745 gam cùng vỏ bao bì mẫu vật được niêm phong trong phong bì thư số 574/2019/PC09 và 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu HOA VIỆT (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2020 giữa Công an huyện An Lão và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão).

- Trả lại cho bị cáo số tiền 150.000 đồng (theo giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước có mã hiệu: HPH710120; số CT: 0000152 ngày 18/02/20200) nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án phí của bị cáo.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Quang C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ