- Tranh chấp gì? án hình sự — "CAM VAN S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm i, Khoản 1, Điều 249; Khoản 1, Điều 47; Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 08/2020/HS-ST Ngày 09-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nhuận
Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 345/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 355/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Cầm Văn S, sinh năm 1990 tại tỉnh T; hộ khẩu thƣờng trú: Thôn T1, xã X, huyện T2, tỉnh T; chổ ở trƣớc khi bị bắt: Khu dân cƣ V, phƣờng A, thị xã T3n, tỉnh B; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cầm Văn Q(đã chết) và Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; bị cáo chƣa có vợ; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/6/2019. Có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1976; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 14 giờ ngày 27/6/2019, Phòng Cảnh sát ĐTTP về ma túy Công an tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Đội cảnh sát ĐTTP về ma túy Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng và Công an phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ không tên tại địa chỉ: Khu dân cƣ V, phƣờng A, thị xã T3n, tỉnh B, khi kiểm tra phòng trọ số 03 do Cầm Văn S thuê trọ, phát hiện dƣới chân cầu thang bên tay phải (hƣớng từ cửa vào) có 03 túi nylon miệng kéo dính gồm: 01 túi nylon chứa 03 viên nén màu xanh hình ngôi sao; 01 túi nylon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nylon chứa 41 viên nén màu xám có hình mặt cƣời do Cầm Văn S cất giấu để sử dụng. Đồng thời, S chủ động giao nộp cho lực lƣợng Công an thêm 02 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 02 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng đƣợc S cất giấu dƣới cái loa nghe nhạc đối diện cửa ra vào của phòng trọ. S khai nhận toàn bộ số ma túy nêu trên là của S nên lực lƣợng Công an lập biên bản và đƣa về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra, Cầm Văn S khai nhận: Tất cả số ma túy bị công an thu giữ là của S mua vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/6/2019, tại khu vực Ngã tƣ An Sƣơng, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh của một ngƣời thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch với giá 900.000 đồng và cất dấu ở phòng trọ để sử dụng. Đến 14 giờ 00 phút cùng ngày thì bị lực lƣợng công an kiểm tra, phát hiện thu giữ và lập biên bản bắt quả tang nhƣ trên.
Qua kiểm tra tại Trung tâm Y tế thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xác định: Cầm Văn S có sử dụng ma túy loại Methamphetamine và MDMA.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nylon chứa 03 viên nén màu xanh hình ngôi sao; 01 túi nylon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nylon chứa 41 viên nén màu xám có hình mặt cƣời; 02 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 02 gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng đã đƣợc niêm phong theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 509/MT-PC09 ngày 04 tháng 7 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:
+ 03 viên nén màu xanh hình ngôi sao là ma túy có khối lƣợng 0,9451 gam, loại MDMA (M1-2);
+ 01 túi nylon chứa tinh thể màu trắng là ma túy có khối lƣợng có khối lƣợng 1,3572 gam, loại Methamphetamine (M1-3);
+ 02 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy có khối lƣợng 6,9451 gam, loại Ketamine (M2-1);
+ 02 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy có khối lƣợng 0,5337 gam, loại Methamphetamine (M2-2);
+ Đối với 01 túi nylon chứa 41 viên nén màu xám có hình mặt cƣời có khối lƣợng 14,4345 gam (M-1), sau khi giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận là mẫu vật lạ và hoàn lại mẫu vật sau giám định là 36 viên nén màu xám có khối lƣợng 12,6314 gam (M-1) và đề nghị Cơ quan điều tra Công an thị xã Thuận An trƣng cầu Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh để giám định.
Tại kết luận giám định số 3356/C09B ngày 22/7/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 36 viên nén tròn màu xám hình mặt cƣời gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Mẫu vật hoàn lại sau giám định đƣợc niêm phong trong các bì thƣ ký hiệu 509/PC09, 3356/C09B
Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKS-TA ngày 18 tháng 12 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Cầm Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điểm i, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Cầm Văn S từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Về vật chứng trong vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;
Bị cáo Cầm Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng nhƣ những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Cầm Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhƣ nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, ngƣời chứng kiến tại cơ quan điều tra và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận:
Cầm Văn S là đối tƣợng nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 27/6/2019, tại phòng trọ số 3 thuộc khu dân cƣ V, phƣờng A, thị xã T3n, tỉnh B, bị cáo S đã có hành vi cất dấu 1.8909 gram ma túy loại Methamphetamine, 0.9451 gram ma túy loại MDMA và 6.9451 gram ma túy loại Ketamine để sử dụng thì bị lực lƣợng công an phát hiện, bắt giữ ngƣời cùng tang vật. Nhƣ vậy, hành vi trên của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đƣợc quy định tại Điểm i, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố đối với bị cáo Cầm Văn S là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma túy. Bản thân bị cáo là ngƣời nghiện ma túy, hiểu rõ ma túy ảnh hƣởng rất xấu đến đến sức khỏe, trí tuệ của một con ngƣời, gây hệ lụy nghiêm trọng cho an ninh, trật tự địa phƣơng, là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các loại tội phạm khác. Tuy nhiên, vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng bất chấp pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định về hình phạt cần xem xét về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự nhƣ sau:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về phần vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm ma túy loại MDMA, Methamphetamine và Ketamine tổng khối lƣợng 9.033 gram là vật chứng trong vụ án, bị Nhà nƣớc cấm lƣu hành và 12.6263 gram các viên nén tròn màu xám hình mặt cƣời không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo S do không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên chƣa xử lý, khi nào xác định đƣợc sẽ xử lý sau.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù đối với bị cáo S cũng nhƣ phần vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo S phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm i, Khoản 1, Điều 249; Khoản 1, Điều 47; Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Các Điều 317, 318, 319, 323 Bộ luật Dân sự 2015;
Điều 106, 136, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lƣợng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Cầm Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Cầm Văn S 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2019.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thƣ niêm phong ký hiệu vụ số 509/PC09 (M2) bên ngoài có chữ ký ngƣời chứng kiến Cầm Văn S, cán bộ giao mẫu Hoàng Xuân T4, cán bộ nhận mẫu Đoàn Nguyễn T5 và mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng (mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng) và 01 (một) bì thƣ niêm phong ký hiệu vụ số 3356/01-C09B, có chữ ký của ngƣời chứng kiến Hà Thị Phƣớc H, ngƣời niêm phong Thái Ngọc T6 (mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16 tháng 12 năm 2019 giữa Công an thị xã Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An).
3. Về án phí: Bị cáo Cầm Văn S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Công an xã X, huyện T2, tỉnh T; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Bị cáo; - Lƣu: HS, THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên |