- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Bé Kết " Vi phạm giao thông" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Bé K phạm t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HS-ST Ngày: 20 - 03 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Ngọc Tuyến.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Văn Hải.
2/ Bà Nguyễn Thị Tĩnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng tháng 2 năm 2020, tại trụ sở thành phố Tân An, tỉnh Long An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2020/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2020 đối với:
Bị cáo: Đặng Bé K, sinh năm: 1998, giới tính: Nam;Tên gọi khác: Không; Nơi ĐK NKTT: ấp 3, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Công nhân. Trình đ học vấn: 9/12; Dân t c: Kinh; Tôn Giáo: Không; Cha ru t: Đặng Văn Thu, sinh năm: 1951 (chết); Mẹ ru t: Nguyễn Thị Nga, sinh năm: 1960 (còn sống); Bị cáo là con m t trong gia đình; Vợ: Lê Thị Hồng Hạnh, sinh năm 1987; Con: Đặng Hồng Lam, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại điều tra (có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Huỳnh Vũ Khánh D(đã chết)
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: ông Huỳnh Thanh V, sinh năm 1974 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 10/4 Khóm 1, phường 1, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn N, sinh năm 1985
(có mặt).
Địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 12 phút ngày 08/10/2019, Đặng Bé K điều khiển xe mô tô biển số 36B4-545.42 chở theo sau Trần Văn N, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn 3, xã Gò Tân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa lưu thông trên Quốc l 1, hướng thành phố Hồ Chí Minh đi Tiền Giang nhưng chạy ngược chiều. Khi đến Km 1945, Quốc l 1, Phường 5, thành phố Tân An, tỉnh Long An, Đặng Bé K điều khiển xe mô tô chuyển hướng từ trái sang phải để qua đường, lúc này Huỳnh Vũ Khánh Duy, sinh năm 2000, địa chỉ: 10/4 Khóm 1, Phường 1, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh điều khiển xe mô tô biển số 84B1-600.35 lưu thông hướng ngược lại, do khoảng cách gần Huỳnh Vũ Khánh Dxử lý tình huống để tránh, nên Duy cùng với xe mô tô bị té ngã, dẫn đến Duy bị va chạm vào xe mô tô của Đặng Bé K đang điều khiển. Huỳnh Vũ Khánh Dđược đưa đi cấp cứu và tử vong tại Bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 08/10/2019 do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Tân An, tỉnh Long An lập xác định:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông nằm trên Quốc l 1, mặt đường trải nhựa, thẳng, phẳng theo hướng Tiền Giang- thành phố Hồ Chí Minh, bên trái hiện trường là tỉnh l 834 về Thủ Thừa.
Chọn mép đường bên phải hướng Tiền Giang – thành phố Hồ Chí Minh làm chuẩn. Chọn chân trụ đèn tín hiệu giao thông nằm trong mép lề phải trước hiện trường hướng Tiền Giang -Tp. Hồ Chí Minh làm điểm mốc.
(1) Là vết cày đứt quãng theo hướng chuẩn đo đạc, vết cày dài 9m95. Đầu vết cày đo đến điểm mốc 16m, mép đường chuẩn 5m63 đến tâm trước bánh xe mô tô 36B4-545.42 ở vị trí 2 là 3m65. Cuối vết cày nằm dưới gác chân trước bên trái xe mô tô 84B1-600.35 ở vị trí 3 đang ngã chạm mặt l nhựa.
(2) Là nơi xe mô tô 36B4-545.42 ngã phải đầu xe hướng về Tiền Giang. Xe có tâm bánh xe trước và sau đo vào lề chuẩn 7m30 và 7m32.
(3) Là nơi xe mô tô 84B1-600.35 ngã trái, đầu xe hướng vào lề trái theo hướng chuẩn đo đạc. Xe có tâm bánh xe trước và sao đo vào lề chuẩn 5m15 và 3m90.
Tại biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 08/10/2019 xác định xe mô tô biển số 36B4-545.42, xe mô tô biển số 84B1-600.35 có những dấu vết:
Xe mô tô biển số 36B4-545.42: Đầu ngoài tay thắng bên phải bị trầy xước, đầu ngoài cần đạp số trước bên trái bị cong quác theo chiều từ ngoài vào trong, cong chếch từ trên xuống dưới. Gác chân trước bên trái bị cong chếch theo hướng từ trước ra sau.
Xe mô tô biển số 84B1-600.35: Đầu ngoài tay thắng trái bị trầy xước m t vùng kích thước 1cm x 1,3cm. Đầu ngoài cần đạp số phía trước bị trầy xước, gác chân trước bên trái bị cong chếch theo chiều từ trước ra sau, đầu ngoài gác chân bị trầy xước. Ốp nhựa thân hông sau xe bị trầy xước kích thước 6cm x 1,3cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 250/TT ngày 30/10/2019 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế Long An kết luận: Huỳnh Vũ Khánh Dtử vong do chấn thương bụng vỡ gan nặng gây sốc mất máu, đa chấn thương.
Xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân An đã trả lại 01 (m t) xe mô tô BS: 84B1-600.35 cho chủ sở hữu là Huỳnh Thanh V, SN 1974, HKTT: 10/4 Khóm 1, phường 1, TP.Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh và 01 (m t) xe mô tô BS: 36B4-545.42 cho chủ sở hữu là Trần Văn N, SN 1985, HKTT: Thôn 3, xã Gò Tân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Trách nhiệm dân sự:
Đặng Bé K đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Huỳnh Vũ Khánh Dtổng số tiền là 120.000.000đ (M t trăm hai mươi triệu đồng) để lo chi phí đám tang và tổn hại về vật chất, tinh thần cho gia đình nạn nhân, đại diện hợp pháp là anh Huỳnh Thanh V, đã nhận đủ số tiền trên và đã làm đơn bãi nại để giảm m t phần xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đặng Bé K.
Bản Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 15/01/2020, Viện kiểm sát nhân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo Đặng Bé K về t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 B luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị H i đồng xét xử căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 38, Điều 50, Điều 65 B luật hình sự. Xử phạt Đặng Bé K từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo Đặng Bé K chỉ xin giảm nhẹ và không có tranh luận gì khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn N xác định trong số tiền 120.000.000đ bị cáo bồi thường cho người bị hại, trong đó anh Nam bỏ ra 50.000.000đ. Số tiền này anh không có yêu cầu bị cáo phải trả lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố Tân An và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, H i đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về Hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. H i đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 10 giờ 12 phút ngày 08/10/2019, Đặng Bé K điều khiển xe mô tô biển số 36B4-545.42 chở theo sau Trần Văn N lưu thông trên Quốc l 1, hướng thành phố Hồ Chí Minh đi Tiền Giang nhưng chạy ngược chiều. Khi đến Km 1945, Quốc l 1, Phường 5, thành phố Tân An, tỉnh Long An, Đặng Bé K điều khiển xe mô tô không đi bên phải theo chiều đi của mình và chuyển hướng không đảm bảo an toàn gây va chạm vào xe mô tô biển số 84B1-600.35 lưu thông hướng ngược lại do Huỳnh Vũ Khánh Dđiều khiển, làm cho tai nạn xảy ra. Hậu quả Huỳnh Vũ Khánh Dtử vong tại Bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh.
Hành vi nêu trên của Đặng Bé K đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường b , gây nguy hiểm cho xã h i, trực tiếp xâm phạm trật tự công c ng, gây thiệt hại tính mạng người khác và đủ yếu tố cấu thành t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” t i phạm, hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 B luật hình sự (BLHS). Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo theo bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 29/5/2020 là hoàn toàn có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng t i, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 B luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm t i của mình; sau khi phạm t i bị cáo đã cùng chủ phương tiện tích cực khắc phục hậu quả bằng việc bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và được đại diện gia đình người bị hại chấp nhận và có đơn xin giảm nhẹ m t phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo; tại phiên tòa bị cáo xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên có căn cứ đế giảm nhẹ m t phần trách nhiệm hình sự khi lượng hình.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phốTân An đề nghị H i đồng xét xử áp dụng Điều 65 B luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo; H i đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo gây tai nạn làm chết 1 người là đặc biệt nghiêm trọng, tại phiên Tòa bị cáo khai, hiện tại bị cáo làm công nhân đang ở nhà trọ tại Thủ Thừa Long An, không xác định được số nhà và ở ấp nào, vì vậy có căn cứ để xác định bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, nên không có đủ điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm t i với lỗi vô ý nên HĐXX thống nhất miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn Đặng Bé K đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Huỳnh Vũ Khánh Dtổng số tiền là 120.000.000đ (M t trăm hai mươi triệu đồng) để lo chi phí đám tang và tổn hại về vật chất, tinh thần cho gia đình nạn nhân, đại diện hợp pháp là anh Huỳnh Thanh V, đã nhận đủ số tiền trên và đã làm đơn bãi nại để giảm m t phần xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đặng Bé K, nay không ai có yêu cầu gì nên H i đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (m t) xe mô tô BS: 84B1-600.35 và 01 (m t) xe mô tô BS: 36B4-545.42, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt ra xem xét.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải n p theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Bé K phạm t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 B luật hình sự.
3. Xử phạt: Đặng Bé K 12 (mười hai) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 B luật hình sự và Điều 106 B luật tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Đặng Bé K giấy phép số: 930171000281 mang tên Đặng Bé K (vật chứng đang lưu trong hồ sơ vụ án).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 B luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc h i: Bu c bị cáo Đặng Bé K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Long An;
(01)
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện KSND tỉnh Long An; (01)
- VKSND tp Tân An;
(01)
- Công an tp Tân An;
(01)
- Chi cục THADS tp Tân An; (01)
- UBND (nơi bị cáo cư trú);
(01)
- Sở Tư pháp tỉnh Long An; (01)
- Bị cáo;
(01)
- Địa diện người bị hại
(01)
- Người liên quan;
(01)
Bùi Ngọc Tuyến
- B phận THA hình sự;
(07)
- Lưu: hồ sơ vụ án, AV.
(02)
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Văn Sở - Lê Thị Đông
Bùi Ngọc Tuyến
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND TP Tân An; - Công an TP Tân An; - Chi cục thi hánh án dân sự TP Tân An; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Ngọc Tuyến |