vanban.org

Bản án 08/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 19/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 87 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 hộp bìa niêm phong có chứ ký Phạm Hoàng Hiệp, Nguyễn Văn Diễn, Nguyễn Bích Ngọc, Lê Anh Long, Nguyễn Quang H và dấu niêm phong số 247/2019/PC09 của Phòng PC09 Công an thành phố Hải Phòng; 01 hộp bìa niêm phong có chứ ký Phạm Hoàng Hiệp, Nguy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự. - phạm tội tàng trữ trái p…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 87 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HS-ST
Ngày 19-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Hạnh

Thẩm phán

Ông Cao Thành Ngọc

Bà Nguyễn Thị Mai Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết

Ông Tống Văn Băng

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang H sinh năm1984 tại Thái Bình. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 1, thị trấn An Dương, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; tạm trú: Tổ 5, khu Cao Sơn 1, Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Quang Vanh và bà Nguyễn Thị Lếnh; có vợ là Phạm Thị Hương Thúy và có 01 con sinh năm 2019; tiền sự: Không; về nhân thân (có 03 tiền án đều đã được xóa):

+ Bản án số 155/2006/HSPT ngày 19/12/2006, TAND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm CĐTS”.

+ Bản án số 30/2007/HSST ngày 06/6/2007, TAND huyện An Dương xử 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm CĐTS”, tổng hợp hình phạt chung với bản án số 155/2006/HSPT ngày 19/12/2006 của TAND quận Lê Chân là 27 tháng tù.

+ Bản án số 99/2011/HSPT ngày 17/8/2011 Tòa phúc thẩm - TAND tối cao tại Hà Nội xử 06 năm tù về tội “Mua bán người”, ra tù ngày 27/4/2016.

Bị tạm giữ từ ngày 01/6/2019 đến ngày 10/6/2019 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân Tứ – Luật sư của Văn phòng luật sư 13-5 thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18h00’ ngày 31/5/2019, tại khu vực ngã tư Quang Thanh, xã Quang Trung, huyện An Lão, Hải Phòng, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Hải Phòng bắt quả tang Nguyễn Quang H có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong xe ô tô BKS 14A – 37014 do Nguyễn Quang H điều khiển 01 túi nilon màu đen kích thước 30cm x 50cm, bên trong có ba túi nilon màu trắng cùng kích thước 10cm x 15cm chứa tổng cộng 271,70gam tinh thể màu trắng (qua giám định là ma tuý loại Methamphetamine); 01 bao diêm nhãn hiệu Thống Nhất, bên trong có 01 gói giấy bạc bọc 01 túi nilon màu trắng kích thước 03cm x 04cm chứa 1,06 gam tinh thể màu trắng (qua giám định là ma túy loại Methamphetamine); 01 túi nilon màu trắng kích thước 04cm x 05cm bên trong có chín viên nén hình tròn màu đỏ khối lượng 0,94 gam (qua giám định là ma túy loại Methamphetamine). Ngoài ra còn thu giữ: 04 điện thoại di động đã qua sử dụng, 01 xe ô tô màu đen BKS 14A -37014 và số tiền mặt là 40.000.000 đồng, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 hộ chiếu, 01 thẻ ngân hàng Vietcombank, 01 thẻ ngân hàng Agribank đều mang tên Nguyễn Quang H; giấy tờ của xe ô tô BKS: 14A - 37014 mang tên Phạm Văn Vĩnh; 01 thẻ nhớ của camera hành trình gắn trong xe ô tô; 25 vỏ túi nilon; 01 tấm giấy bạc.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quang H tại tổ 1- thị trấn An Dương-huyện An Dương- Hải Phòng, phát hiện: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 5 x 10 cm bên trong chứa 0,9362 gam tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy loại Ketamin; 01 lọ thuỷ tinh hình trụ bên trong chứa tinh thể màu trắng nặng 374,73 gam qua giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy; 01 hộp nhựa có bám dính 0,23 gam tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy loại Methamphetamine.Ngoài ra còn thu giữ 01 cân điện tử, 02 bình nhựa có gắn ống hút và ống thuỷ tinh, 01 đĩa sứ, 01 nỏ thuỷ tinh, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 50 vỏ túi nilon, 01 thẻ nhựa.

Nguyễn Quang H khai: Chiều ngày 31/5/2019, H mượn xe ô tô BKS 14A – 370.14 của bố vợ là ông Phạm Văn Vĩnh đi từ Quảng Ninh đến nhà một người bạn xã hội tên là Đẹp tại xã Quang Trung - An Lão - Hải Phòng mục đích để lấy tiền Đẹp nợ là 40.000.000 VNĐ. Đẹp hẹn H chờ tại khu vực ngã ba gần đường cao tốc, . Khoảng 17 giờ 35 phút, Đẹp đi xe máy một mình đến gặp H đưa cho H 20.000.000 VNĐ và nói có một ít “đồ” (tức ma tuý) chất lượng kém đưa cho H mang về sử dụng thử, nếu sử dụng thấy được thì coi như thay cho số tiền 20.000.000 VNĐ, còn nếu không được thì trả lại Đẹp và lấy 20.000.000 VNĐ. H đồng ý, sau đó Đẹp lấy một bọc túi nilon màu đen ném vào cốp xe rồi phóng xe máy đi. Trên đường đi về nhà tại An Dương - Hải Phòng, H đã cầm lấy bọc nilon chứa ma tuý giấu lên khe trống phía trên chân phanh của xe ô tô. Đến khu vực gần ngã tư Quang Thanh - An Lão - Hải Phòng thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bọc nilon chứa ma tuý, bên trong có ba túi nilon màu trắng, mỗi túi chứa khoảng một lạng ma tuý đá. H còn khai báo chỗ cất giấu 01 bao diêm bên trong có hồng phiến và một ít ma tuý đá cất giấu tại hộp sáp thơm của xe ô tô là ma tuý của H mua từ trước để sử dụng. Mục đích H cất giấu số ma tuý trên là để mang về nhà sử dụng, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Trong 40 triệu đồng bị thu giữ thì có 20 triệu đồng do Đẹp trả nợ cho H, còn 20 triệu đồng là tiền của H để sử dụng vào mục đích sinh hoạt.Về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở của H tại thị trấn An Dương, huyện An Dương, Hải Phòng và số ma túy trong bao diêm cất giấu trong xe ô tô, H khai đã mua vài ngày trước tại khu vực đường tàu Lê Chân của một người phụ nữ không quen biết với giá 5.000.000 VNĐ, một phần H mang về để ở nhà sử dụng, một phần H cất giấu trong xe ô tô để khi nào tiện lấy ra sử dụng.

Ngoài ra H còn khai người đàn ông tên là Lợi nhà trong ngõ 363 Miếu Hai Xã, Lê Chân, Hải Phòng đã 03 lần bán ma túy cho H mang về sử dụng. Qua xác minh xác định được là Nguyễn Thế Lợi (sinh năm 1990, nơi cư trú: số 10/363 Miếu Hai Xã, Dư Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng); tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và xe ô tô của Lợi không thu giữ tài liệu đồ vật gì; hiện Lợi đang vắng mặt tại địa phương, nên chưa có cơ sở xử lý.

Đối tượng Đẹp qua xác minh là Đỗ Văn Đẹp (sinh năm 1979, nơi cư trú: Thôn Cầu Đông, Quang Trung, An Lão, Hải Phòng). Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn Đẹp, không thu được tài liệu, đồ vật gì có liên quan; đối chất với Đẹp chỉ thừa nhận có quen biết với H và trả H 20.000.000 đồng, không thừa nhận hành vi ném túi nilon đen có chứa ma túy vào xe ô tô của H. Do không có chứng cứ nào khác nên không đủ cơ sở kết luận số ma túy thu giữ trong xe ô tô của H là do Đẹp đưa cho H.

H khai nhận bản thân là người sử dụng nhiều loại ma túy tổng hợp và đã tự nguyện làm cộng tác viên tham gia vào lực lượng cung cấp cho Cơ quan Cảnh sát biển nhiều thông tin liên quan đến các tổ chức, tội phạm về ma túy từ đầu năm 2019. Các đối tượng “B đông”, “Chó chết”, “Camphuchia Mèo” đều là người quen trên mạng xã hội của H, H trao đổi, tiếp cận giao dịch ma túy đối với các đối tượng trên mục đích mua ma túy vể sử dụng và cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Khai thác dữ liệu trong camera hành trình xe ô tô 14 A – 370.14 của H có 01 đoạn hội thoại giữa H và Bờm (là bạn xã hội của H, nhà ở Thủy Nguyên, Hải Phòng) Bờm kể vào hồi 17h45’ ngày 30/5/2019 nội dung có một đối tượng tên là Đông hỏi Bờm lấy 01 lạng Ketamine. H khai chỉ nghe Bờm nói như vậy, không chứng kiến và tham gia vào việc mua bán ma túy giữa Bờm và Đông.

Trong quá trình điều tra, Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển xác nhận Nguyễn Quang H là người cung cấp thông tin phục vụ phòng chống ma túy cho lực lượng Cảnh sát biển từ tháng 5 năm 2019. Quá trình cộng tác, H đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị góp phần vào việc triệt phá một số vụ án ma túy lớn.

- Về vật chứng, đồ vật, tài liệu gồm:

+ Đối với chiếc xe ô tô và toàn bộ giấy tờ của xe ô tô BKS 14A -370.14 tạm giữ của Nguyễn Quang H khi khám xét, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Phạm Văn Vĩnh.

+ Vật chứng chuyển cơ quan Thi hành án gồm: Số ma túy và đồ vật còn lại sau khi giám định, 04 điện thoại di động, giấy tờ cá nhân và thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Quang H, 01 thẻ nhớ của camera hành trình gắn trong xe ô tô, USB lưu dữ liệu trích xuất trong thẻ nhớ Camera sau khi giám định, 75 vỏ túi nilon, 01 tấm giấy bạc, 01 cân điện tử, 02 bình nhựa có gắn ống hút và ống thủy tinh, 01 đĩa sứ, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng, 01 thẻ nhựa, 01 lọ thủy tinh có nắp nhựa, 01 hộp nhựa màu trắng và số tiền 40.000.000 đồng.

- Tại Bản Cáo trạng số 09/CT-VKS-P1 ngày 16 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên toà:

+ Bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì.

+ Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 16 năm tù đến 17 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; phạt tiền bị cáo từ 10 đến 20 triệu đồng.

Đề nghị xử lý vật chứng như sau: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các vật dụng liên quan đến ma túy hoặc không còn giá trị sử dụng; lưu hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu Kingston, 64GB, màu đen; trả lại bị cáo các tài sản gồm 4 điện thoại di động; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 hộ chiếu, 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombak, 01 thẻ ATM ngân hàng Agribank; tạm giữ số tiền 40.000.000 đồng thu giữ của bị cáo để bảo đảm thi hành án, số tiền sau khi thi hành án còn lại được trả cho bị cáo.

+ Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và Điều luật áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh, nguyên nhân và điều kiện phạm tội để cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

+ Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng của bị cáo xin pháp luật khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng; bản kết luận giám định; vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét công khai tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Quang H đã tàng trữ trái phép 273,93 gam Methamphetamine và 0,9362 gam Ketamine với mục đích sử dụng cho bản thân; đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước ta mà còn gây mất trị an xã hội ở địa phương và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, từng có 3 lần bị kết án về các tội khác, vừa mới ra tù được hơn 3 năm lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Nhưng cũng xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng do lần đầu phạm tội, nhân thân không có tiền án, tiền sự, thái độ khai báo thành khẩn.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có bố đẻ là thương binh 4/4 và đã có hành vi giúp đỡ cho các cơ quan phòng chống ma túy phá được một số vụ án ma túy khác (có xác nhận của Cảnh sát Biển Việt Nam) và Công văn số 280/BC-PC04-Đ2 của Cơ quan CSĐT- Công an TP Hải Phòng đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về quyết định hình phạt: Xét bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng và được hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt là bị cáo đã lập công, làm đơn tố giác hành vi mua bán trái phép chất ma túy, giúp đỡ cơ quan điều tra phá án 2 vụ án ma túy (đây được coi là tình tiết giảm nhẹ đáng kể trách nhiệm hình sự). Nhưng do bị cáo tàng trữ lượng ma túy lớn và có nhân thân xấu nên vẫn cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao, trên mức khởi điểm của khung hình phạt, theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe ô tô và toàn bộ giấy tờ của xe ô tô BKS 14A -370.14 là của ông Phạm Văn Vĩnh (bố vợ H), khi cho H mượn xe ông Vĩnh không biết H đi chở ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Phạm Văn Vĩnh là đúng qui định của pháp luật.

Đối với số ma túy còn lại sau khi giám định; 75 vỏ túi nilon, 01 tấm giấy bạc, 01 cân điện tử, 02 bình nhựa có gắn ống hút và ống thủy tinh, 01 đĩa sứ, 01 lọ thủy tinh, 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng, 01 thẻ nhựa, 01 lọ thủy tinh có nắp nhựa, 01 hộp nhựa màu trắng liên quan đến ma túy cần tịch thu tiêu hủy. 04 điện thoại di động, giấy tờ cá nhân và thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Quang H, 01 của camera hành trình gắn trong xe ô tô không chứng minh được liên quan đến ma túy, cần trả lại cho bị cáo. Chiếc USB lưu dữ liệu trích xuất trong thẻ nhớ Camera và thẻ nhớ sau khi giám định cần chuyển lưu theo hồ sơ vụ án. Tạm giữ số tiền 40.000.000 đồng của bị cáo để bảo đảm thi hành án, còn lại trả cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Trong vụ án này còn có các đối tượng Nguyễn Thế Lợi sinh năm 1990, nơi cư trú: số 10/363 Miếu Hai Xã, Dư Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng; H khai đã bán ma túy cho H, hiện đi khỏi địa phương nên cần kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi để xử lý theo qui định của pháp luật. Các đối tượng “B đông”, “Chó chết”, “Camphuchia Mèo” và Bờm (là bạn xã hội của H, nhà ở Thủy Nguyên, Hải Phòng) có dấu hiệu liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng hiện không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Nguyễn Quang H 16 (mười sáu). năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2019. Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 87 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

+ Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 hộp bìa niêm phong có chứ ký Phạm Hoàng Hiệp, Nguyễn Văn Diễn, Nguyễn Bích Ngọc, Lê Anh Long, Nguyễn Quang H và dấu niêm phong số 247/2019/PC09 của Phòng PC09 Công an thành phố Hải Phòng; 01 hộp bìa niêm phong có chứ ký Phạm Hoàng Hiệp, Nguyễn Văn Diễn, Nguyễn Trung Kiên, Nguyễn Quang Vanh, Nguyễn Văn Thắng và dấu niêm phong số 248/2019/PC09 Công an thành phố Hải Phòng;

+ Tịch thu, tiêu hủy các vật dụng liên quan đến ma túy hoặc không còn giá trị sử dụng gồm: 05 vỏ túi màu trắng kích thước khoảng 10x15cm; 20 vỏ túi màu trắng kích thước khoảng 20x30cm; 01 tấm giấy bạc kích thước khoảng 35x40cm; 01 cân điện tử kích thước khoảng 8x15x1cm màu đen;01 bình nhựa có gắn ống hút bằng nhựa; 01 bình nhựa có gắn 01 ống hút ở nắp bình và gắn 01 ống hút tại giữa bình; 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền 10.000 VNĐ; 01 thẻ nhựa; 01 nỏ thủy tinh; 01 đĩa sứ; 01 hộp nhựa màu trắng, kích thước khoảng 20x15x5cm; 50 vỏ túi nilong kích thước 5x10cm; 01 hộp giấy niêm phong có chữ ký Nguyễn Duy Linh, Hoàng Văn Lương và dấu đỏ niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng;

+ Lưu hồ sơ vụ án tại Tòa án: 01 USB nhãn hiệu Kingston, 64GB, màu đen; 01 thẻ nhớ (chứa trong 01 phong bì niêm phong chưa mẫu vật sau giám định trên niêm phong có chữ ký Nguyễn Trung Kiên, Phạm Đức Trung và dấu đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng)

+ Trả lại bị cáo: 01 điện thoại Lenovo màu đen, imei: 865487032078548; 01 điện thoại Iphone màu vàng, mặt sau in hình chữ FCC ID BCG E2946A IC 579 – E2946A; 01 điện thoại Nokia màu đen, imei 1: 359021094059717, imei 2: 359021095059716; 01 điện thoại Iphone màu trắng không xác định được imei (không khởi động được nguồn); 01 camera hành trình nhãn hiệu Vietcam, màu đen; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 hộ chiếu, 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombak, 01 thẻ ATM ngân hàng Agribank đều mang tên Nguyễn Quang H.

+ Tạm giữ số tiền 40.000.000 đồng thu giữ của bị cáo để bảo đảm thi hành án, số tiền sau khi thi hành án còn lại được trả cho bị cáo.

(Vật chứng được lưu giữ theo biên bản bàn giao vật chứng và biên lai thu tiền số 0004006 ngày 17 tháng 01 năm 2020 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng)

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

-Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ