vanban.org

Bản án 08/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 20/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thanh T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/10/2019. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,122g Methamphetamine số mẫu ma túy hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 354/KLGĐ – PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HS - ST
Ngày: 20 - 01- 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Tân.

2. Bà Nguyễn Thị Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Thư ký Tòa án nhân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương; Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/2019/TLST - HS ngày 30/12/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Đoàn Thanh T, sinh năm 1984

ĐKHKTT và cư trú tại : Số 22 Nguyễn H, phường Phạm Ngũ L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Đình Ng và bà Nguyễn Thị Ch;Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2019, chuyển tạm giam ngày 11/10/2019 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

- Anh Trần Trung H, sinh ngày 24/8/2001

Nơi cư trú: Khu 11, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt).

- Anh Vũ Thế C, sinh năm 1973

Nơi cư trú: Số 8, Hàn G, phường Q, thành phố Hả, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 08/10/2019, Đoàn Thanh T gặp bạn tên Th (không rõ họ, tuổi, địa chỉ) ở khu vực đền S, phường T, thành phố Hải Dương; tại đây Th đưa cho T 200.000đ và bảo đi mua ma túy tổng hợp về sử dụng chung. T đồng ý. Sau đó, T gặp bạn tên Qu (không rõ họ, tuổi, địa chỉ) hỏi mượn Qu 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave S màu đỏ xám, biển số 34 N5 – 0491 để đi có việc. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đến khu vực đường Nguyễn T, thành phố H, tỉnh Hải Dương mua được 01 gói ma túy tổng hợp với số tiền 200.000đ của một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) cầm trong tay trái và điều khiển xe về chỗ hẹn với Th. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe đến khu vực đèn xanh, đèn đỏ ngã tư máy S thuộc phường Phạm Ngũ L, thành phố H thì bị đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP. H kiểm tra. T ném gói ma túy đang cầm trên tay trái xuống đất cách vị trí T đứng 02m. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hả thu giữ 01 gói nilon màu trắng, kích thước 2 x 2cm, bên trong chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave S màu đỏ xám, biển số 34N5 – 0491, có sự chứng kiến của các anh Vũ Thế C, Trần Trung H.

Quá trình điều tra Đoàn Thanh T khai nhận mua và cất giấu trái phép 0,191gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Kết luận giám định số 354/KLGĐ - PC09 ngày 11/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Đoàn Thanh T, gửi đến giám định có khối lượng là 0,191g (không phẩy một trăm chín mươi mốt gam) là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định trả 0,122g (Không phẩy một trăm hai mươi hai gam) Methamphetamine. Toàn bộ đối tượng giám định được hoàn lại trong niêm phong số 354/KLGĐ – PC09.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 26/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đoàn Thanh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi cất giấu trái phép 0,191gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/10/2019. Hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,122g Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 354/KLGĐ – PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương; 01 biển số xe 34 N5 - 0491. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/10/2019, tại khu vực đèn xanh, đèn đỏ ngã tư máy sứ thuộc phường Phạm Ngũ L, thành phố H; Đoàn Thanh T đang cất giấu trái phép 0,191gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Dương bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Việc sử dụng ma túy còn là mầm mống làm phát sinh một số loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng nặng nề cho sức khỏe của con người và kinh tế của gia đình người sử dụng, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có bố đẻ ông Đoàn Đình Ng là thương binh hạng 2/4, được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: 0,122g Methamphetamine số mẫu ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave S màu đỏ xám, biển số 34 N5 – 0491, quá trình điều tra T khai mượn của người bạn tên Qu (không rõ họ, địa chỉ). Tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 30/10/2019 xác định chiếc xe trên có số khung RLHHC1208Y011431 và số máy HC 12 E – 0022443 đăng ký biển số là 14 H3 – 0398, chủ xe là chị Lê Thị N ở xóm T, Cẩm L, Yên H, Quảng Ninh. Ngày 13/6/2011, chị N dựng xe trước cửa nhà ở phố Đông H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh bị kẻ gian trộm cắp, chị N đã trình báo Công an phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đã bàn giao chiếc xe trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hạ Long để giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc biển số 34N5 – 0491, xác minh tại Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hải Dương là biển số đăng ký của xe mô tô nhãn hiệu LXMOTO màu đen, chủ xe là anh Nguyễn Văn Ch ở Ninh Thành, Ninh Giang, Hải Dương. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương đã xác minh trên địa bàn xã Ninh Thành, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương không có ai tên Nguyễn Văn Ch. Xét thấy biển số xe trên không sử dụng được nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người bán ma túy cho T, người bạn của T tên Th do không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thanh T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/10/2019.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,122g Methamphetamine số mẫu ma túy hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 354/KLGĐ – PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương và 01 biển số xe mô tô 34 N5 – 0491.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương và và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 03/01/2020).

4. Về án phí: Bị cáo Đoàn Thanh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. /. N¬i nhËn:

T.m Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- VKSND thành phố Hải Dương;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Hải Dương;

- Công an thành phố Hải Dương;

- Chi cục THADS thành phố Hải Dương;

- Trại tạm giam Kim Chi;

- Đội cảnh sát hỗ trợ tư pháp và thi hành án Công an Thành phố Hải Dương;

- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;

Phạm Thị Thu

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HẢI DƯƠNG

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

–––––––––––––––

TP. Hải Dương, ngày 31 tháng 01 năm 2020

Số: 01/2020/TB-TA

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2020/HSST ngày 20/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

1. Về nội dung tại dòng số 8 từ dưới lên trên trang 1 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: con ông Đoàn Đình Ng và bà Nguyễn Thị Ch…;

Nay được bổ sung như sau: Có vợ là Nguyễn Thị Thanh T (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2011.

Cỡ chữ