- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Thùng Văn X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thùng Văn X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 08/2020/HS-ST Ngày 27-4-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hạng A Sáng và ông Thùng Văn Liên
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hƣơng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Chiến, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Thùng Văn X, sinh năm 1973 tại huyện N, tỉnh Điện Biên.
Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N 2, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Lớp 7/12.
Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Thùng Văn Y, đã chết; Con bà: Lèng Thị T, đã chết.
Bị cáo có vợ Khoàng Thị T, sinh năm 1971 và 05 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2005.
Tiền án: Không
Tiền sự: Có một tiền sự, ngày 03/4/2017, Tòa án nhân dân huyện N Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng. Ngày 11/10/2017, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc đã tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính đối với Thùng Văn X.
Nhân thân: Bị cáo không có án tích, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục chưa được xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/12/2019, tạm giam ngày 26/12/2019, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16 tháng 12 năm 2019, Thùng Văn X đi bộ từ nhà ở Bản N 2, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên đến bản S 2, xã N, huyện N để mua ma túy mang về sử dụng. Bị cáo đi đến khu vực bờ suối thuộc Bản N 2 thì gặp, giao dịch và mua được 400.000 đồng Heroine của một người đàn ông dân tộc Dao tên K bị cáo không rõ địa chỉ. Mua được Heroine, bị cáo mang về nhà chia thành 05 gói nhỏ, một gói bị cáo sử dụng, còn lại 04 gói bị cáo cất giấu vào đầu giường ngủ để sử dụng dần. Hồi 10 giờ ngày 17/12/2019, tổ công tác Công an huyện N đến nhà Thùng Văn X phát hiện bị cáo cất giấu ma túy trong nhà. Tổ công tác yêu cầu bị cáo giao nộp ma túy và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số 12/CT-VKS-NP ngày 06/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Thùng Văn X về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên phạt bị cáo Thùng Văn X từ 24 đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 10 giờ 10 phút ngày 17/12/2019 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Thùng Văn X bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã N tạm giữ của bị cáo 02 gói ni lông màu trắng, mở bên trong gói thứ nhất có 03 gói nhỏ ni lông màu trắng đều chứa chất bột màu trắng đục nghi là Heroine. Mở bên trong gói thứ hai có chứa chất bột màu trắng đục nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 14 giờ 00 phút ngày 17/12/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N bút lục số 47, 48 khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Thùng Văn X là 1,1 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,16 gam.
Kết luận giám định số 17/GĐ-PC09 ngày 23/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 53 đã kết luận mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Thùng Văn X gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA danh mục I Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Thùng Văn X có tội. Bị cáo đã mua Heroine mang về nhà tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp và đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thùng Văn X có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về tính chất mức độ phạm tội:
Khối lượng ma túy bị thu giữ của Thùng Văn X là 1,1 gam Heroine. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo rất nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo sinh ra và lớn lên ở xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên. Nhân thân của bị cáo rất xấu, từ năm 2006 đến năm 2013, bị cáo đã 3 lần bị áp biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục. Ngày 11/10/2017, bị cáo được tạm đình chỉ để về nhà chữa bệnh. Trong thời gian tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân của bị cáo khi chưa được xóa tiền sự để quyết định hình phạt.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Mẹ đẻ của bị cáo là bà Lèng Thị T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất. Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Thùng Văn X.
Về vật chứng:
Vật chứng của vụ án là 1,1 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,16 gam không hoàn lại đối tượng giám định. Vật chứng này tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các vấn đề khác:
Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ bị cáo khai mua của một đàn ông dân tộc Dao tên K bị cáo không rõ lai lịch ở khu vực bờ suối thuộc Bản N 2, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có đủ cơ sở để làm rõ đối tượng. Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Thùng Văn X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Thùng Văn X 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 17/12/2019.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 1,1 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,16 gam không hoàn lại đối tượng giám định. Vật chứng còn lại 0,94 gam cùng toàn bộ phần giấy nilon, phong bì niêm phong cũ, bắt ngày 17/12/2019. Vật chứng được đựng trong 01 phong bì niêm phong có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 16 giờ 00 phút ngày 06/4/2019 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Thùng Văn X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 27/4/2020.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện N; - Nhà tạm giữ Công an huyện N; - Cơ quan CSĐT Công an huyện N; - Công an huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |