- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Vũ Thanh T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2019.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HS-ST Ngày: 09-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Trung Tuyến.
Ông Nguyễn Ngọc Giao.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Anh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Vũ Thanh T - Sinh ngày 22/01/1996 tại xã X, huyện X1, tỉnh N; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm 4, xã X, huyện X1, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn V, sinh năm 1973 và bà Trần Thị H, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: 02: ngày 17/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra trại ngày 05/8/2018; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2019 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng: Anh Trần Việt B, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm 8, xã X2, huyện X1, tỉnh N.
- Người chứng kiến:
+ Anh Vũ Văn H, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm 8, Q, xã G1, huyện G, tỉnh N.
+ Bà Trần Thị H1, sinh năm 1977; địa chỉ: Xóm 4, xã X, huyện X1, tỉnh N.
Tại phiên tòa có mặt bị cáo T và bà H1; Vắng mặt anh B và anh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 07/10/2019, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Giao Thủy làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm 2, Quyết Thắng xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy phát hiện Vũ Thanh T điều khiển xe máy BKS 18F8 - 9012 có biểu hiện nghi vấn (cất giấu trái phép ma túy). Tổ công tác đã yêu cầu T dừng xe để kiểm tra, quá trình kiểm tra, T đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ được gói bằng giấy báo bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. T khai nhận đó là gói Heroine của T vừa mua tại chợ xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy với giá 300.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân, được niêm phong ký hiệu M. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định, ngoài ra còn thu giữ của T 01 xe máy nhán hiệu Vinashin BKS 18F8-9012 cùng 01 đăng ký xe mang tên Trần Ngọc Đ.
Ngày 08/10/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy đã đưa gói chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của T đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 945/GĐKTHS ngày 08/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói nhỏ bằng giấy báo được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,261 gam.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 26/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Vũ Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép 0,261 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, vì vậy áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Thanh T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có công việc ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Vũ Thanh T nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 07/10/2019, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Giao Thủy làm nhiệm vụ tại khu vực xóm 2, Quyết Thắng, xã Giao Tiến phát hiện Vũ Thanh T đã có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,261 gam, bị cáo khai mua về để sử dụng cho bản thân. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị kết án thuộc trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Hành vi phạm tội của bị cáo với tính chất rất nghiêm trọng, nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[3] Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Vinashin BKS 18F8-9012 và 01 đăng ký xe mang tên Trần Ngọc Đ, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của ông Vũ Văn V (là bố đẻ của T), khi T lấy xe đi mua ma túy, ông V không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe và đăng ký cho ông V là phù hợp.
Về nguồn gốc số Heroine của Vũ Thanh T có để cất giấu: T khai nhận mua qua khe cửa sắt tại một ngôi nhà trong chợ xã Giao Tiến nhưng không nhìn thấy người bán, không biết đó là nhà của ai, không nhớ đặc điểm, vị trí ngôi nhà, quá trình điều tra không có căn cứ để kết luận nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Vũ Thanh T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 27/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Vũ Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; - Công an huyện Giao Thủy; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |