vanban.org

Bản án 08/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 29/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc H 01 (Một) năm tù. Th i hạn chấp hành chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 20/12/2019. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HS-ST
Ngày 29 - 4 - 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hu nh Minh T nh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hữu Khánh

Ông Nguyễn Văn Mầm

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh V là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị H ng M - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/TLST-HS, ngày 18 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 3 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Quốc H, sinh năm 1982, tại huyện Năm Căn, t nh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; N i đăng ký nhân khẩu thư ng trú, ch : khóm Cái Nai, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn, t nh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Quốc Việt (đã chết) và bà Hu nh Hồng Lụa; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/12/2019, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 gi 40 phút ngày 20/12/2019 lực lượng Công an xã Trần Thới tuần tra phát hiện Phạm Quốc H đang điều khiển xe mô tô hiệu Attila biển số kiểm soát 69K4 - 8676 đi từ hướng quán cà phê Mỹ Lạc thuộc ấp Mỹ Hưng, xã Trần Thới, huyện C về huyện Năm Căn, t nh Cà Mau có biểu hiện nghi vấn nên đề nghị H dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trên ngư i H đang cất giấu 02 túi nilong màu trắng bên trong có đựng tinh thể dạng rắn nghi là ma túy (một túi nilong trong túi quần bên phải ph a trước và một túi niolong trong túi áo bên trái). Qua làm việc H thừa nhận đó là ma túy của H được một ngư i bạn tên V thành phố Hồ Ch Minh cho, mục đ ch để sử dụng.

Vật chứng liên quan vụ án thu giữ gồm: Hai túi nilong b ng nhựa màu trắng, bên trong có chứa tinh thể dạng rắn đã được niêm phong; 01 áo s mi dài tay có sọc xanh; 01 quần Jean ống dài màu xanh; 01 xe mô tô kiểm soát 69K4 - 8676; 01 cái bóp (v ) da nam hiệu OROTOM; 01 cây kéo b ng Inox (loại kéo nhỏ) và tiền Việt Nam 130.000 đồng (bút lục số: 24 - 26; 29; 43 - 59).

Tại Bản kết luận giám định số 03/GĐH-PC09 ngày 21/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Cà Mau kết luận: Mẫu tinh thể bên trong 02 túi nilong được niêm phong k n trong phong bì, ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,5404gam, loại Methamphetamine (bút lục số: 20).

Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS ngày 17 tháng 3 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố Phạm Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng, đánh giá t nh chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Quốc H mức án từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo H nói l i sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng trong vụ án, không có ngư i nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Vào khoảng 00 gi 40 phút ngày 20 tháng 12 năm 2019 tại ấp Đầm Cùng, xã Trần Thới, huyện C, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,5404 gam, nh m mục đ ch để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án mang t nh chất nghiêm trọng. Bị cáo là ngư i thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được chất ma túy là rất độc hại, cấm tàng trữ trái phép, nhưng vì mục đ ch thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng th i, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân và có thể làm phát sinh một số loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy và c ng có điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét nhân thân, t nh tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt ch nh là hình phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 2 Điều 35; khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với ngư i tên V cho ma túy bị cáo H sử dụng, hiện chưa xác định được họ, tên đầy đủ và địa ch cụ thể nên C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số kiểm soát 69K4 - 8676, 01 cái bóp (v ) da nam hiệu OROTOM, 01 cây kéo b ng Inox (loại kéo nhỏ) và tiền Việt Nam 130.000 đồng không liên quan đến vụ án nên C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.

- 01 phong bì mẫu số 03/GĐH-PC09 ngày 21/12/2019 của Phòng kỹ thuật Công an t nh Cà Mau được niêm phong k n, có chữ ký, chữ viết họ tên Giám định viên “Trần Anh Kiệt” và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong. Bên trong có chứa chất ma túy là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 áo s mi dài tay có sọc xanh và 01 quần Jean ống dài màu xanh hiện nay còn giá trị sử dụng nên trả lại cho bị cáo.

Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự s thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc H 01 (Một) năm tù. Th i hạn chấp hành chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 20/12/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì mẫu số 03/GĐH-PC09 ngày 21/12/2019 của Phòng kỹ thuật Công an t nh Cà Mau được niêm phong k n, có chữ ký, chữ viết họ tên Giám định viên “Trần Anh Kiệt” và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy.

Trả lại cho bị cáo: 01 áo s mi dài tay có sọc xanh và 01 quần Jean ống dài màu xanh.

(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang quản lý).

4. Về án ph : Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Quốc H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự s thẩm.

Án xử s thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ