- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Sơn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC THỦ ĐÔ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HS-ST Ngày 14 - 7- 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 2// Hoàng Đạt Nam.
Các Hội thẩm quân nhân:
3// Phạm Sĩ Hiển;
1// Nguyễn Đắc Thắng.
Thư ký phiên tòa: 4/ Phí Thị Thanh Nga, Thư ký Tòa án quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội tham gia phiên tòa: 2// Lê Duy Trinh, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại Phòng xử án Tòa án quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2020 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:
Kiều Sơn H; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 26 tháng 4 năm 1994 tại Hà Nội; nơi cư trú: ngõ X, đường N, phường X, quận B, Thành phố Hà Nội; Cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: Thiếu úy QNCN, Lái xe, Tiểu đoàn Y, Trung tâm H, Binh chủng P; văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Văn S và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Khánh L, sinh năm 1995 và 01 con, sinh năm 2016; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: Chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 06/9/2019 đến ngày 09/9/2019, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú: Có mặt.
Những người làm chứng:
1. Hoàng Đình C: có mặt;
2. Hoàng Anh V: vắng mặt;
3. Đỗ Bích N: vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 51 phút ngày 05/9/2019, Kiều Sơn H gọi điện rủ Hoàng Đình C về dự sinh nhật bạn ở phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Khoảng 20 giờ 30 phút, H điều khiển xe mô tô BKS: 29L5-066.56 đến đơn vị P, Binh chủng P đón C, khi đến nơi H đưa xe mô tô cho C điều khiển và ngồi sau chỉ đường. Khi về đến phường X thì tiệc sinh nhật đã xong, nên H đã gọi điện cho Nguyễn Anh T thông qua messenger H Kieu cho Ngoa Long (Nguyễn Anh T) hỏi mua 01 viên ma túy tổng hợp để sử dụng, T đồng ý nói giá 450.000 đồng và hẹn H đến cửa đình Xuân Tảo thuộc phường Xuân Đỉnh để nhận ma túy. Khoảng 22 giờ 13 phút cùng ngày, C chở H đến khu vực trước cổng đình Xuân Tảo, H bảo C dựng xe ngồi ở ghế đá chờ H đi lấy đồ, cùng lúc đó H gọi điện thoại cho T nói đã đến. Khoảng 22 giờ 15 phút, T đi xe mô tô SH mode BKS 29L5-310.19 đến dừng xe trước cửa đình Xuân Tảo, T đưa cho H 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa 01 viên ma túy dạng viên nén màu xanh, H trả cho T 450.000 đồng. Khi H vừa trả tiền xong thì tổ công tác Công an phường Xuân Đỉnh phát hiện đến kiểm tra, T bỏ chạy để lại chiếc xe mô tô, một điện thoại IphoneX màu trắng, một ví da bên trong có thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh T, còn H tự nguyện nộp cho Công an phường Xuân Đỉnh một túi ni lông màu trắng bên trong chứa 01 viên ma túy dạng viên nén màu xanh. Tổ công tác Công an phường Xuân Đỉnh đã lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về Công an phường Xuân Đỉnh để giải quyết.
Tại phiên tòa bị cáo Kiều Sơn H khai nhận: Khoảng 18 giờ 51 phút ngày 05/9/2019, tôi gọi điện cho Hoàng Đình C rủ C về dự sinh nhật bạn ở phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Sau đó tôi gọi cho Nguyễn Anh T mua kẹo (ma túy đá) để sử dụng, tôi hỏi T viên ma túy tổng hợp đó bao nhiêu thì T nói là một viên giá 450.000 đồng, T hẹn tôi ra trước cửa Đình Xuân Tảo, phường Xuân Đỉnh để lấy, tôi đồng ý. Khoảng 20 giờ tôi điều khiển xe máy BKS: 29L5-066.56 đến đơn vị P để đón C, khi đến nơi tôi giao xe cho C điều khiển còn tôi ngồi sau xe để chỉ đường. Khoảng 22 giờ thì chúng tôi đến cửa Đình Xuân Tảo, tôi bảo C dừng xe lại và ngồi ở ghế đá, sau đó tôi gọi điện cho T là đã đến nơi. Khoảng 22 giờ 15 thì T đi xe máy SH màu mận chín đến trước cửa Đình Xuân Tảo, tôi ra đưa cho T 450.000 đồng và T đưa cho tôi một túi ni lông màu trắng bên trong có chứa một viên nén màu xanh, cùng lúc đó tổ công tác Công an phường Xuân Đỉnh đến kiểm tra hành chính, T bỏ chạy để lại chiếc xe máy SH. Còn tôi sau đó đã tự nguyện nộp lại cho Công an chiếc túi ni lông bên trong có viên ma túy mà tôi vừa mua của T. Cơ quan Công an đã lập biên bản, niêm phong tang vật và đưa chúng tôi về trụ sở làm việc.
Lời khai của người làm chứng Hoàng Đình C: Khoảng 20 ngày 05/9/2019, tôi đang xem bóng đá ở đơn vị thì anh H gọi điện cho tôi nói sẽ đến đón đi dự sinh nhật bạn ở phường Xuân Đỉnh. Khi đến đơn vị anh H giao xe mô tô cho tôi điều khiển còn anh H ngồi sau xe chỉ đường. Khoảng 22 giờ 05 phút tôi chở anh H đến trước cửa Đình Xuân Tảo thì anh H nói tôi dừng xe, tôi và anh H ra ghế đá ngồi, lúc đó anh H gọi điện cho ai đó nói “Anh đến rồi em ra đi”. Khoảng 5 phút sau có một nam thanh niên đi xe mô tô SH mode đến, anh H đi ra chỗ người thanh niên đó, ngay sau đó thì Công an đến kiểm tra, anh H chạy lại chỗ tôi, còn người thanh niên chạy ra ngoài ngõ cạnh bờ ao bỏ lại chiếc xe máy. Tôi thấy anh H giao cho Công an túi ni lông màu trắng bên trong có chứa một viên màu xanh, anh H khai là ma túy tổng hợp anh vừa mua để sử dụng, lúc này tôi mới biết anh H và người thanh niên mua bán chất ma túy. Sau đó, công an đã tiến hành lập biên bản và thu giữ tang vật.
Lời khai của người làm chứng Hoàng Anh V: Khoảng 22 giờ ngày 05/9/2019, tôi từ nhà ra cổng Đình Xuân Tảo để mua nước uống, khi đến cổng Đình tôi thấy tổ công tác Công an phường Xuân Đỉnh có ba người đang kiểm tra hành chính hai thanh niên, còn một thanh niên nữa thì bỏ chạy. Tổ công tác kiểm tra giấy tờ tùy thân của hai thanh niên, một thanh niên đã giao nộp tổ công tác một túi ni lông màu trắng bên trong có chứa một viên màu xanh, còn thanh niên bỏ chạy có bỏ lại một xe mô tô, một điện thoại và một ví da. Sau đó, Công an làm các thủ tục và đưa hai thanh niên và mời tôi cùng về Công an phường tiếp tục làm các thủ tục tiếp theo. Về Công an phường tôi mới biết hai thanh niên bị bắt giữ là Kiều Sơn H và Hoàng Đình C, người giao nộp một túi ni lông màu trắng bên trong có chứa một viên màu xanh là Kiều Sơn H.
Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội xác định: hồi 22 giờ 45 phút ngày 05/9/2019, tổ công tác Công an phường Xuân Đỉnh bắt quả tang Kiều Sơn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực trước cửa đình Xuân Tảo thuộc tổ dân phố Trung 2, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Thu giữ 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 7x12cm bên trong có chứa một viên màu xanh. Tổ công tác đã lập biên bản sau đó đưa Kiều Sơn H và Hoàng Đình C về trụ sở Công an phường để giải quyết.
Ngày 06/9/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Kiều Sơn H. Tại bản Kết luận giám định số 5790/KLGĐ- PC09 ngày 13/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hà Nội đã kết luận: 01 viên nén màu xanh bên trong 01 gói ni lông là ma túy loại MDMA, khối lượng: 0,543 gam.
Tại bản Cáo trạng số 237/CT-VKSQSTĐHN ngày 12 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát quân sự Thủ đô Hà Nội đã truy tố bị cáo Kiều Sơn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố đối với bị cáo Kiều Sơn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả vụ án, điều kiện, nguyên nhân phạm tội và nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt Kiều Sơn H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về các biện pháp tư pháp: Ghi nhận việc xử lý tài sản, đồ vật của các cơ quan tiến hành tố tụng: trả cho Kiều Sơn H 01 chiếc điện thoại Nokia màu xanh, 01 ví da màu đen bên trong gồm có CMND số xxxxxxxxx, giấy phép lái xe số 1577937 hạng C, giấy phép lái xe số AV 619659 hạng A1, 01 xác sim khi thu giữ có số thuê bao xxxxxxxxxx. Trả cho Hoàng Đình C 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen. Trả cho Đỗ Bích N chiếc xe mô tô Honda wave BKS 29L5- 06656 và đăng ký xe mô tô BKS 29L5- 066.56. Chiếc xe mô tô SH mode BKS 29L5-310.19, 01 một điện thoại IphoneX màu trắng, 01 một ví da bên trong có thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh T, Cơ quan điều tra đã chuyển cùng hồ sơ vụ án mua bán trái phép chất ma tuý sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm để giải quyết theo thẩm quyền.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 gói ni lông bên trong có 01 viên nén màu xanh là ma túy loại MDMA, khối lượng: 0,543 gam; 01 xác sim khi thu giữ có số thuê bao xxxxxxxxxx. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 6 plus màu xám, số Imei 352066064103430.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Kiều Sơn H nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét điều kiện hoàn cảnh gia đình, chiếu cố giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an phường Xuân Đỉnh; Cơ quan Điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm; Cơ quan Điều tra hình sự Binh chủng Pháo Binh, Điều tra viên; Viện kiểm sát quân sự Thủ đô Hà Nội, Viện kiểm sát quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, có cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Kiều Sơn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa.
Căn cứ vào các tình tiết của vụ án, các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 05/9/2019, tại khu vực trước cổng đình Xuân Tảo thuộc phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, Kiều Sơn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,543 gam ma túy loại MDMA để sử dụng. Vì vậy, hành vi của Kiều Sơn H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ.
. Xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là quân nhân nhưng không làm chủ được bản thân, đua đòi, thiếu tu dưỡng rèn luyện, thể hiện ý thức kém trong việc chấp hành pháp luật. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Kiều Sơn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Kiều Sơn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ân hận về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có mẹ đẻ được nhà nước tặng Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 03 Bằng khen và 03 Giấy khen trong quá trình công tác, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra Hội đồng xét xử cũng xem xét đến điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo; bản thân bị cáo Kiều Sơn H trong quá trình học tập, công tác khi quyết định hình phạt.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số lượng ma túy bị cáo tàng trữ với khối lượng ít, quá trình công tác bị cáo đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, bị cáo tuổi đời còn trẻ, đều có bố, mẹ phục vụ trong Quân đội, vợ không có việc làm ổn định, con còn nhỏ, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, buộc bị cáo phải chịu thời gian thử thách theo quy định của pháp luật như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Giao bị cáo Kiều Sơn H cho Trung tâm H, Binh chủng P để giám sát, giáo dục, cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo phòng ngừa chung.
. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo: bị cáo khai tên là Nguyễn Anh T, nhưng đối tượng này bỏ trốn, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhiều lần nhưng chưa làm rõ được đối tượng. Để hoàn thành việc điều tra giải quyết vụ án và xét thấy việc tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện vụ án, cho nên Cơ quan điều tra hình sự Binh chủng Pháo binh đã tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Anh T và chuyển hồ sơ vụ án mua bán trái phép chất ma túy cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội tiếp tục giải quyết. Việc Cơ quan điều tra hình sự Binh chủng Pháo binh tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Anh T là có cơ sở.
. Đối với Hoàng Đình C: C cùng Kiều Sơn H đi đến địa điểm mua ma túy của Nguyễn Anh T, nhưng C không biết việc H và T hẹn nhau mua ma túy, khi T đưa ma túy cho H, C cũng không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự của Hoàng Đình C là có căn cứ.
. Về vật chứng: Trong quá trình giải quyết vụ án Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 gói ni lông bên trong có 01 viên màu xanh là ma túy loại MDMA, khối lượng: 0,543 gam là vật cấm lưu hành và 01 xác sim khi thu giữ có số thuê bao xxxxxxxxxx mà bị cáo dùng vào việc liên lạc để mua ma túy hiện không còn giá trị sử dụng; căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 6 plus màu xám, số Imei 352066064103430: quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo đã dùng để liên lạc mua ma túy sử dụng, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX thấy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Chiếc xe mô tô SH mode BKS 29L5-31019, 01 một điện thoại IphoneX màu trắng, 01 một ví da bên trong có thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh Thư. Cơ quan điều tra hình sự Binh chủng Pháo binh đã chuyển cùng hồ sơ vụ án mua bán trái phép chất ma tuý sang Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Bắc Từ Liêm để giải quyết theo thẩm quyền.
Những tài sản, đồ vật gồm: 01 chiếc điện thoại Nokia màu xanh; 01 ví da màu đen bên trong gồm: CMND số xxxxxxxxx, giấy phép lái xe số 1577937 hạng C, giấy phép lái xe số AV 619659 hạng A1; 01 chiếc điện thoại Iphone 7 plus màu đen; 01 chiếc xe mô tô Honda wave BKS 29L5- 066.56 và đăng ký xe mô tô BKS 29L5-066.56; 01 xác sim khi thu giữ có số thuê bao xxxxxxxxxx. Cơ quan điều tra hình sự Binh chủng Pháo binh và Tòa án quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội đã trả lại cho các chủ sở hữu trong giai đoạn điều tra và chuẩn bị xét xử theo quy định của pháp luật. Nên tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết lại nữa.
. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Kiều Sơn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Kiều Sơn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Kiều Sơn H 14 (mười bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 28 (hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/7/2020). Giao bị cáo Kiều Sơn H cho Trung tâm H, Binh chủng P giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6 plus màu xám, số Imei 352066064103430.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì giấy đã được niêm phong có chữ ký của Kiều Sơn H và giám định viên, bên trong có 01 gói ni lông chứa 01 viên màu xanh là ma túy loại MDMA, khối lượng: 0,543 gam và 01 (một) xác sim khi thu giữ có số thuê bao xxxxxxxxxx.
Theo các biên bản: Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu của Công an Phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội lập ngày 05/9/2019. Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội lập ngày 06/9/2019.
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Kiều Sơn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/7/2020); bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm lên Toà án quân sự Thủ đô Hà Nội./.
| Nơi nhận: - VKSQSTĐHN; - VKSQSKVTĐHN; - Cơ quan THAHS TĐHN; - Phòng THA- BTTM; - CQĐTHS BC Pháo binh; - TTHL- ĐT, BC Pháo binh ; - Bị cáo Kiều Sơn H; - Lưu hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA 2// Hoàng Đạt Nam |