vanban.org

Bản án 08/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Thủy.

Bà Nguyễn Thị Hồng Thủy được ly hôn với ông Phạm Văn Ngân (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thành , thành phố Đồng Xoài, Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 48, ngày 27/6/2012). Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao con là Phạm Nguyễn Khánh , sinh năm 2012 cho bà Thủy trực tiếp chă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Thủy.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 08/2020/HNGĐ-ST
Ngày 30/3/2020
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƢỚC

Thành phần Hội Đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung

Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Được, ông Trịnh Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phô Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng -Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 489/2019/TLST-HNGĐ ngày 12/12/2019 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXX-ST ngày 25/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Hồng Thủy - SN: 1991 (vắng-có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: ông Phạm Văn Ngân - SN: 1991 (vắng) Cùng nơi cư trú: ấp 3, xã Tân Thành, Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Thủy trình bày:

Tôi và ông Phạm Văn Ngân tự nguyện chung sống với nhau vào ngày 27/6/2012, có đăng kí kết hôn theo quy định pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Trong quá trình chung sống giữa tôi và ông Ngân xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông Ngân cờ bạc, thường xuyên bỏ nhà đi chơi nên không chăm lo cho gia đình dẫn đến cuộc sống chung vì vậy mà xảy ra nhiều cãi vã, mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc cho nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Vì con chung, tôi đã cố gắng nhẫn nhịn để giữ hạnh phúc gia đình nhưng càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng nên tôi không thể chịu đựng thêm. Vì vậy, tôi bỏ về nhà bố mẹ ruột sống thì ông Ngân tới nhà bố mẹ tôi gây chuyện, hăm dọa, không chịu được, tôi đã từng làm đơn xin li hôn và đã được Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài hòa giải, chúng tôi đã xin rút đơn về, nhưng rồi mâu thuẫn của chúng tôi vẫn không được giải quyết, hiện chúng tôi đang sống ly thân với nhau. Thời gian sống ly thân, tôi đã suy nghĩ rất kỹ, tôi không thể chịu đựng thêm nữa vì cuộc sống chung của chúng tôi không còn hạnh phúc, hôn nhân giữa tôi và ông Ngân không thể kéo dài, do vậy, tôi mong muốn Toà án giải quyết cho tôi được li hôn với ông Ngân.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống chúng tôi có con chung là Phạm Nguyễn Khánh, sinh ngày 11 tháng 9 năm 2012. Hiện do con còn nhỏ và đang sống với tôi, nên tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Không yêu cầu ông Ngân phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Văn Ngân: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần giấy triệu tập cùng các văn bản của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để triệu tập ông Ngân lên Tòa án làm việc, tham gia phiên họp và hòa giải, tham gia phiên tòa hôn nhân sơ thẩm nhưng ông Ngân vẫn vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện theo quy định tại điều 70, 72,227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Cuộc sống chung của bà Thủy và ông Ngân có mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án thì yêu cầu về ly hôn của bà Thủy có cơ sở để được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội Đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” do nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Thủy khởi kiện. Bị đơn ông Phạm Văn Ngân có nơi cư trú tại ấp 3, xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ hợp lệ giấy triệu tập cùng các văn bản của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để triệu tập ông Ngân lên Tòa án làm việc, tham gia phiên họp và hoà giải, tham gia phiên tòa hôn nhân sơ thẩm nhưng ông Ngân vẫn vắng mặt không rõ lý do. Việc ông Ngân không đến Tòa để tham gia tố tụng là đương nhiên từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; căn cứ vào điều 72, điều 199, điều 227, điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3].Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: bà Thủy, ông Ngân tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài , tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 48, ngày 27/6/2012. Căn cứ điều 8 và điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Do vậy bà Thủy có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Ngân là có căn cứ.

Xét yêu cầu xin được ly hôn với ông Ngân của bà Thủy thấy: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã khuyên bà Thủy hàn gắn tình cảm, quay về đoàn tụ chung sống với ông Ngân nhưng bà Thủy vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Ngân. Vì bà cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Ngân cờ bạc, thường xuyên bỏ nhà đi chơi nên không chăm lo cho gia đình dẫn đến cuộc sống chung xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã không còn yêu thương quan tâm chăm sóc nhau. Bà và ông Ngân đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện nay bà và ông Ngân đã sống ly thân với nhau. Đối với bị đơn ông Phạm Văn Ngân trong quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Ngân biết được bà Thủy yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không đến Tòa án để thể hiện ý chí nguyện vọng hàn gắn gia đình cũng như đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của mình. Do vậy, căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét. Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và cùng có trách nhiệm chung với gia đình, nhưng trong cuộc sống chung của bà Thủy và ông Ngân có những mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thủy.

[3.2].Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Thủy, ông Ngân có con chung là Phạm Nguyễn Khánh , sinh ngày 11 tháng 9 năm 2012. Bà Thủy yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, do cháu Khánh còn nhỏ, hiện cháu đang ở với bà Thủy nên yêu cầu của bà Thủy là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thủy không yêu cầu nên HĐXX không giải quyết trong vụ án này.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thủy không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3.3].Án phí sơ thẩm: Bà Thủy phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Thủy.

Bà Nguyễn Thị Hồng Thủy được ly hôn với ông Phạm Văn Ngân (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thành , thành phố Đồng Xoài, Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 48, ngày 27/6/2012).

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao con là Phạm Nguyễn Khánh , sinh năm 2012 cho bà Thủy trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thủy không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí: Bà Thủy phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0025543 quyển số 000511 ngày 11/12/2019 của Chi cục Thi hành án thành phố Đồng Xoài.

Quyền kháng cáo: bà Thủy có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Ngân có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ