vanban.org

Bản án 08/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Thu Tr được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Th, sinh ngày 01/6/2016 cho chị Võ Thị Thu Tr được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Võ Thị Thu Tr không yêu cầu nên Toà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L."
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 7 năm 2020
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Hường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Hồng.

2. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.

Thư ký phiên toà: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ: Ông Hoàng Văn Toàn-Kiểm sát viên.

Ngày 30/7/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 219/2020/TLST–HNGĐ ngày 20/12/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 22/6/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thu Tr.

Địa chỉ: 46/34 H, khu phố 3, phường Ph, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng L

Địa chỉ: Số 40 Đ, phường T, thị xã B, Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Võ Thị Thu Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Hoàng L tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 14/10/2015 tại UBND phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình sống chung vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 06/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Nguyễn Hoàng L nhậu nhẹt bê tha, bài bạc, cá độ bóng đá, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng cãi vã mâu thuẫn nhau. Nay tôi nhận thấy vợ chồng tôi không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa, nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L.

Về con chung: Quá trình sống chung chúng tôi có 01 con chung tên là Nguyễn Hoàng Th, sinh ngày 01/6/2016, tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Toà án không lấy lời khai, không tiến hành việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và tiến hành hoà giải với anh Nguyễn Hoàng L được.

Tại biên bản xác minh ngày 22/6/2020 của Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ về tình trạng hôn nhân của chị Tr và anh L như sau: Chị Võ Thị Thu Tr và anh Nguyễn Hoàng L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 14/10/2015 tại UBND phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình chung sống anh chị sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể thì chính quyền địa phương không nắm rõ và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay.

Đại diện VKSND thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Cho chị Tr được ly hôn với anh L. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Th, sinh ngày 01/6/2016 cho chị Tr được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản, công nợ: chị Tr không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên toà nguyên đơn chị Võ Thị Thu Tr giữ nguyên yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu, xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Hoàng L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Caên cöù điểm b khoaûn 2 Ñieàu 227, khoaûn 3 Ñieàu 228 Boä luaät toá tuïng daân söï, Toøa aùn vaãn tieán haønh xeùt xöû vaéng maët bò ñôn.

Về quan hệ pháp luật: Chị Võ Thị Thu Tr và anh Nguyễn Hoàng L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 14/10/2015 tại UBND phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, đây là hôn nhân hợp pháp khi có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu của nguyên đơn HĐXX thấy: Chị Tr, anh L kết hôn với nhau ngày 14/10/2015, sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng cãi vã lẫn nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Tr yêu cầu được ly hôn anh L cơ bản phù hợp với các biên bản xác minh tình trạng hôn nhân và phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận.

Về con chung: Xét nguyện vọng của chị Võ Thị Thu Tr được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Th, sinh ngày 01/6/2016 đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi) và không yêu cầu anh L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về tài sản và công n chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Võ Thị Thu Tr chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoaûn 2 Ñieàu 227; khoaûn 3 Ñieàu 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

-Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Thu Tr được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L.

-Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Th, sinh ngày 01/6/2016 cho chị Võ Thị Thu Tr được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Võ Thị Thu Tr không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.

Anh L được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

-Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

-Về án phí: Chị Võ Thị Thu Tr chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0004712, ngày 18/12/2019, tại cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ