- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị T-Trương văn G"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đặng Thị T, chị Đặng Thị T được ly hôn với anh Trương Văn G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HNGĐ-ST Ngày 29-7-2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Đạo.
Ông Nông Văn Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Đông - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Mai Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2020 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn "theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: Xóm C, xã P, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, có mặt.
- Bị đơn: Anh Trương Văn G, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án, chị Đặng Thị T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T xây dựng gia đình với anh Trương Văn G vào ngày 28/02/2005, trước khi kết hôn anh chị có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 30/11/2006. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Quá trình chung sống đến năm 2011 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Trương Văn G không tu trí làm ăn hay uống rượu, chơi cờ bạc vì thế vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, chị T nhiều lần khuyên bảo, góp ý nhưng anh Trương Văn G vẫn không chịu thay đổi, tu chí làm ăn mà vẫn tiếp tục chơi cờ bạc còn đánh chị T và đập đồ dùng trong nhà và đuổi chị T ra khỏi nhà. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2011 đến nay, chị T thấy rằng không còn tình cảm vợ chồng với anh Trương Văn G nữa. Vì vậy, chị Đặng Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn G.
- Về con chung: Có một người con chung tên là Trương Văn S, sinh ngày 17/11/2005. Quá trình giải quyết vụ án, khi ly hôn chị Đặng Thị T yêu cầu anh Trương Văn G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Văn S đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); chị Đặng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không có.
Về phía bị đơn, anh Trương Văn G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ban Công an xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và tại gia đình anh Trương Văn G, anh Trương Văn T1 là anh trai ruột của anh Trương Văn G cư trú tại thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đều khẳng định anh Trương Văn G vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, tuy nhiên hiện nay anh Trương Văn G đi làm xa nên không về tham gia tố tụng tại Tòa án được. Các văn bản tố tụng của Tòa án anh Tiển đã thông báo cho anh Trương Văn G, anh Trương Văn G có biết việc chị Đặng Thị T hiện nay đang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh và biết việc Tòa án đã gửi, tống đạt các văn bản tố tụng để triệu tập anh đến Tòa án tham gia tố tụng. Tuy nhiên, anh Trương Văn G không đến Tòa án mà không có lý do, anh Trương Văn Tiển có nghe anh G nói về quan hệ hôn nhân: Anh G nhất trí ly hôn với chị Đặng Thị T; về con chung: Anh G yêu cầu được trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Văn S đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu chị Đặng Thị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn anh Trương Văn G không đến Tòa án tham gia vào quá trình tố tụng, bị đơn chị Đặng Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn chị Đặng Thị T đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự như: Thực hiện quyền khởi kiện; nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình; có mặt tham gia phiên tòa sơ thẩm. Bị đơn anh Trương Văn G vắng mặt tại Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, do vậy chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự
- Về việc giải quyết vụ án: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị T. Về con chung: Giao con chung là Trương Văn S, sinh ngày 17/11/2005 cho anh Trương Văn G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị Đặng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Đặng Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét. Về án phí, buộc nguyên đơn chị Đặng Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Đặng Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn Vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trương Văn G có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã V, huyện B. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Anh Trương Văn G vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần thứ hai không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Trương Văn G là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đặng Thị T và anh Trương Văn G là hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/11/2006, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Trương Văn G không tu trí làm ăn, chơi cờ bạc, chị Đặng Thị T và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Trương Văn G vẫn không không thay đổi. Việc mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng vẫn không cải thiện được, vợ chồng sống ly thân từ tháng 01 năm 2011 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Đặng Thị T đều trình bày không còn tình cảm vợ chồng vơi anh Trương Văn G, chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Văn G.
Xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Đặng Thị T và anh Trương Văn G thấy rằng: Anh Trương Văn G không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết ly hôn và cũng không có ý kiến về việc chị Đặng Thị T có đơn xin ly hôn với anh. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Đặng Thị T yêu cầu ly hôn với anh Trương Văn G là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị T là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về con chung: Có một người con chung tên là Trương Văn S, sinh ngày 17/11/2005. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Đặng Thị T có ý kiến yêu cầu anh Trương Văn G là người trực tiếp nuôi con, chị T không cấp dưỡng nuôi con, nguyện vọng của cháu Trương Văn S cũng muốn được ở với bố là anh Trương Văn G. Xét thấy hiện nay cháu Trương Văn S đang ở với anh G và để ổn định cuộc sống của cháu nên chấp nhận yêu cầu của chi Đặng Thị T giao cháu Trương Văn S cho anh Trương Văn G trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp, chi T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh G không đến Tòa án và không có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị Đặng Thị T trình bày là không có, quá trình giải quyết vụ án anh Trương Văn G vắng mặt, không có ý kiến gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị T; về con chung: Giao con chung là Trương Văn S, sinh ngày 17/11/2005 cho anh Trương Văn G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị Đặng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Đặng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đặng Thị T, chị Đặng Thị T được ly hôn với anh Trương Văn G.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Văn S, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2005 cho anh Trương Văn G được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Đặng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Đặng Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không có.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn để nộp ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị Đặng Thị T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2012/05813 ngày 11 tháng 03 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Bắc Sơn; - UBND xã V, huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Công Đức |