vanban.org

Bản án 08/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 357; Điều 463; khoản 1,5 Điều 466; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự,

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Tạ Ngọc N kiện bà Nguyễn Thị Diễm T về việc " tranh chấp hợp đồng vay tài sản". Buộc bà Nguyễn Thị Diễm T phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Tạ Ngọc N các khoản tiền sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà N và bà T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 357; Điều 463; khoản 1,5 Điều 466; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự,
  • Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 224 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÕA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08 /2020/DS-ST
Ngày: 24 /6/2020
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Lâm Ngọc Hà

2/. Ông Nguyễn Văn Ngƣ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà LƣuThị Thúy Vy, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Trong các ngày 23, 24 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2019/TLST-DS, ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST- SD ngày 29 tháng 4 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2020/QĐST- DS ngày 26/5/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tạ Ngọc N, sinh năm 1969

Địa chỉ cư trú: Số 60, đường M, khóm 3, phường 9, thành phố S.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Tạ Ngọc N: Ông Phan Hoàng N

Địa chỉ cư trú: Số 50, đường T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Nơi ở hiện nay: Số 60, đường M, khóm 3, phường 9, thành phố S; Theo văn bản ủy quyền ngày 03/12/2019 (Có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm T

Địa chỉ cư trú: Ấp T , thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NÔI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 12 năm 2019; cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Tạ Ngọc N: Ông Phan Hoàng N trình bày:

Vào ngày 27/3/2017, bà N có cho bà T vay số tiền: 30.000.000 đồng, lãi suất 5%/ tháng, thời gian trả nợ (trả góp gốc, lãi mỗi ngày), từ khi vay đến nay

-1-

bà T không trả vốn và lãi. Vốn: 30.000.000 đồng, lãi tạm tính (từ ngày 27/3/2017 đến ngày 27/11/2019) là 32 tháng x lãi 20%/ năm là: 15.999.999 đồng. tổng cộng vốn lãi: 45.999.999 đồng.

Vào ngày 01/5/2017, bà N có cho bà T vay số tiền: 11.000.000 đồng, lãi suất 5%/ tháng, thời gian trả nợ (trả góp gốc, lãi mỗi ngày), từ khi vay đến nay bà T không trả vốn và lãi. Vốn: 11.000.000 đồng, lãi tạm tính (từ ngày 01/5/2017 đến ngày 01/12/2019) là 31 tháng x lãi 20%/ năm là: 5.683.333 đồng. tổng cộng vốn lãi: 16. 683.333 đồng. Cả hai lần vay tiền, thì giữa bà Nga và bà T có làm 02 tờ cam kết.

Bà N có đến gặp trực tiếp bà T để yêu cầu trả số nợ trên, nhưng bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Nay bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T trả số tiền vốn vay 02 lần là: 41.000.000đ, tính lãi theo quy định của Ngân Hàng Nhà nước từ ngày 01/5/2017 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Diễm T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng bà T đều vắng mặt, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà.

[2] Về nội dung: Bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Diễm T trả số tiền vốn: 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng ), tính lãi theo quy định của Ngân Hàng Nhà nước từ ngày 01/5/2017 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

[3] Tại phiên tòa hôm nay ông N người đại diện ủy quyền của bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T trả vốn của 02 lần vay: 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng ), còn lãi thì ông thay đổi yêu cầu (từ 20%/ năm), nay yêu cầu theo quy định của Ngân Hàng Nhà nước, tính từ ngày 01/5/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm.

[4] Hội đồng xét xử thấy rằng bà Nguyễn Thị Diễm T đã được Tòa án thông báo thụ lý số: 162/TB- TLVA ngày 17/12/2019; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải số 827/TB- TA ngày 17/12/2019; thông báo về việc hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải số 04/TB- TA ngày 08/01/2020.

Với nôi dung là bà Tạ Ngọc N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Diễm T trả tiền vốn của 02 lần vay: 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng), lãi 20%/ năm. Nhưng bà Nguyễn Thị Diễm T không có phản đối, ý kiến gì về số tiền vay còn nợ vốn phải trả cho bà Tạ Ngọc N là 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng), lãi 20%/ năm.

Còn tại phiên tòa hôm nay ông N người đại diện ủy quyền của bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T trả vốn của 02 lần vay: 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng ), còn lãi thì ông thay đổi yêu cầu (từ 20%/ năm), nay yêu cầu theo quy định của Ngân Hàng Nhà nước, tính từ ngày 01/5/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Xét thấy việc yêu cầu thay đổi trên của ông N không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo quy định tại Quyết định số 2868/QĐ - NHNN ngày 29-11- 2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy đinh mức lãi suất cơ bản bằng tiền đồng Việt

-2-

Nam là 9%/ năm. Do đó mức lãi suất cơ bản bằng tiền đồng Việt Nam là: 0,75%/ tháng.

Tư ngày 01/5/2017 đến ngày 24/6/2020 là: 37 tháng 23 ngày.

41.000.000đ X 0,75%/ tháng x 37 tháng 23 ngày = 11.613.250 (Mười một triệu sáu trăm mười ba ngàn hai trăm năm mươi đồng) tiền lãi.

[5] Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Tạ Ngọc N là có căn cứ chấp nhận. Do đó áp dụng khoản 1 Điều 357; Điều 463; khoản 1,5 Điều 466; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự, buộc bà Nguyễn Thị Diễm T phải có nghĩa vụ trả cho bà Tạ Ngọc N số tiền vốn và lãi là: 52. 613.250 đồng (Năm mươi hai triệu sáu trăm mười ba ngàn hai trăm năm mươi đồng) là có căn cứ.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 2.635.788 đồng ( Hai triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn bảy trăm tám mươi tám đồng), đối với số tiến 52. 613.250 đồng x 5% = 2.630.662,5 đồng(làm tròn số 2. 630.663 đồng).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 224; Điều 147; Khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng: khoản 1 Điều 357; Điều 463; khoản 1,5 Điều 466; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự,

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Tạ Ngọc N kiện bà Nguyễn Thị Diễm T về việc " tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Buộc bà Nguyễn Thị Diễm T phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Tạ Ngọc N các khoản tiền sau:

Tiền vốn: 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng );

Tiền lãi: 11.613.250 ( Mười một triệu sáu trăm mười ba ngàn hai trăm năm mươi đồng);

Tổng cộng vốn và lãi: : 52. 613.250 đồng (Năm mươi hai triệu sáu trăm mười ba ngàn hai trăm năm mươi đồng).

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 2. 630.663 đồng ( Hai triệu sáu trăm ba mươi ngàn sáu trăm sáu mươi ba đồng).

Bà Tạ Ngọc N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Tạ Ngọc N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 1.567.000 đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn đồng), theo biên lai số: 0001218 ngày 05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Tạ Ngọc N có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Nguyễn Thị Diễm T còn phải trả lãi cho bà Tạ Ngọc N theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sư năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

-3-

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ