vanban.org

Bản án 08/2020/DS-ST — Tranh chấp đất đai

TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuyên án 10/03/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/DS-ST
Ngày: 10-3-2020
V/v “T/c QSD đất + y/c hủy GCNQSD đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai V n Hải

2. Ông Tr n V n Chu

- Thư ký phiên tòa: bà Giả Huệ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri – Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa:bà Nguyễn Thị Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 n m 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2019/TLST-DS ngày 14/01/2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất + Y/c hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐST - DS ngày 24 tháng 02 n m 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Tr n Việt H, sinh n m 1966; địa chỉ ấp G, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (có mặt).

2. Bị đơn:

2.1 Ông Phùng V n T, sinh n m 1954; địa chỉ ấp X, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (có mặt).

2.2 Bà Nguyễn Thị T (N), sinh n m 1954; địa chỉ ấp X, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (v ng có đơn)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Hồ Thị Đ, sinh n m 1976; địa chỉ: ấp G, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (có mặt).

3.2. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn V n C – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo u quyền: ông Tr n V n M – Phó giám đốc Chi nhánh v n phòng đ ng ký đất đai huyện B (v ng có đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/12/2018 và trong quá trình t tụng, nguyên đơn ông Trần Việt H trình bày:

Thửa đất 248, tờ 30 (nay là thửa 423, tờ 24), diện tích 56m2 có nguồn gốc của ông mua của Ủy ban nhân dân (UBND) xã M vào n m 2006. Ngày 13/4/2009, ông đư c UBND huyện B ban hành quyết định số 985/QĐ-UBND giao cho sử dụng thửa đất trên và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất l n đ u vào ngày 05/11/2009. Khi giao đất, đất tranh chấp có hiện trạng là đất trống, b ng ph ng, có sự chứng kiến của cán bộ huyện, xã và đư c lập thành v n bản. Sau khi nhận đất, do chưa có nhu c u sử dụng nên ông bỏ trống. Đến n m 2015, do phát hiện ông T, bà T lấn chiếm đất làm nơi chất rơm, cất chuồng bò từ n m 2014 nên hai bên phát sinh tranh chấp. Ngày 22/02/2017, ông đư c Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp đ i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ông khởi kiện yêu c u ông T và bà T trả lại thửa đất trên thành tiền là 250.000.000 đồng và không đồng ý v i yêu c u của ông T về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng do Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre cấp đ i cho ông vào ngày 22/02/2017 tại thửa đất trên.

Ông đồng ý bản vẽ ngày 30/8/2019 và kết quả định giá ngày 19/7/2019 làm cơ sở giải quyết vụ án, không yêu c u đo đạc, định giá lại.

Theo đơn yêu cầu ngày 24/5/2019 và trong quá trình t tụng, bị đơn ng Phùng Văn T trình bày:

Đất tranh chấp có nguồn gốc của bà Phùng Thị U (cô ruột) và ông Trà V n N cho cháu nội là ông Trà Đ ng B. Khoảng n m 1980, ông B nói miệng cho lại ông ph n đất trên. Sau đó, ông tu b , san lấp, cải tạo từ đất ao, đ a thành hiện trạng b ng ph ng và trực tiếp sử dụng cho đến nay. Khoảng n m 1984, nhà nư c trưng dụng đất trên làm ch . Do đây là chủ trương của nhà nư c nên ông đồng ý và di dời nhà. Tuy nhiên sau đó nhà nư c không cấp đất tái định cư cho ông và c ng không giao đất trên cho ông b ng h nh thức bán đấu giá mà lại giao cho ông H. Đến n m 2015, do hai bên phát sinh tranh chấp nên ông phát hiện ông H đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i đất tranh chấp. Do đó, ông không đồng ý v i yêu c u khởi kiện của ông H. Tuy nhiên do có nhu c u sử dụng đất nên ông đồng ý trả lại giá trị đất tranh chấp thành tiền là 128.800.000 đồng. Đối v i yêu c u huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre cấp cho ông H vào ngày 22/02/2017 tại thửa đất tranh chấp, hiện ông không yêu c u giải quyết.

Ông đồng ý bản vẽ ngày 30/8/2019 và kết quả định giá ngày 19/7/2019 làm cơ sở giải quyết vụ án, không yêu c u đo đạc, định giá lại.

Trong quá trình t tụng:

- Bị đơn bà Nguyễn Thị T (N) thống nhất v i tr nh bày của ông T.

- Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Đ thống nhất v i tr nh bày của ông H.

Tại C ng văn s 280/STNMT-VPĐK ngày 11/02/2020, Sở Tài nguyên và M i trường Bến Tre trình bày:

Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre cấp giấy chứng nhận cho ông Tr n Việt H thửa đất 423, tờ 24 tại xã Mỹ Hoà (Ba Tri – Bến Tre) có số phát hành CH 883764, số vào s cấp GCN CS04926 dựa trên cơ sở:

- Về quy định: c n cứ Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

- Về quy tr nh: thực hiện theo Thủ tục số 19 thuộc Quyết định số 900/QĐ-UBND ngày 20/5/2015 của UBND tỉnh Bến Tre về việc công bố 38 thủ tục hành chính ban hành m i, 44 thủ tục hành chính bị bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường.

- Về giấy tờ h p pháp:

+ Giấy chứng nhận đư c UBND huyện B cấp ngày 05/11/2009 cho ông H có số phát hành AP 911946, số vào s cấp giấy chứng nhận H02910, thửa đất 248, tờ 30 tại xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre.

+ Đơn đề nghị cấp lại, cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản g n liền v i đất.

Việc yêu c u huỷ giấy chứng nhận đã cấp cho ông H có số phát hành CH 883764 đã đư c Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre cấp ngày 22/02/2017 phải đảm bảo theo quy định tại khoản 7, Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Nếu yêu c u thu hồi giấy chứng nhận đã cấp phải thực hiện đúng theo quy định tại khoản 6, Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

Từ những cơ sở trên, việc ông T yêu c u Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre huỷ giấy chứng nhận đã cấp cho ông H đối v i thửa đất nêu trên là không có cơ sở xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Ông H giữ nguyên tr nh bày, yêu c u ông T và bà T trả lại thửa đất trên thành tiền là 245.000.000 đồng.

- Ông T giữ nguyên tr nh bày, đồng ý trả lại giá trị đất tranh chấp thành tiền là 100.000.000 đồng. Đối v i yêu c u huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre cấp cho ông H vào ngày 22/02/2017 tại thửa đất tranh chấp hiện ông rút lại yêu c u, không yêu c u xem xét giải quyết.

- Bà Đ thống nhất v i tr nh bày của ông H.

- Người đại diện theo uỷ quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre và bà Nguyễn Thị T v ng mặt có đơn.

Quan điểm của Viện kiểm sát:

- Về thủ tục: trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đư c phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đ y đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Hội đồng xét xử và và Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ đư c quy định trong BLTTDS.

- Về nội dung: nhận thấy đất tranh chấp có diện tích 56m2 thuộc thửa 248, tờ 30, nay là thửa 423, tờ 24 tọa lạc xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre có nguồn gốc của ông bà ông Trà Đ ng B nhưng đã đư c Nhà nư c trưng dụng làm ch từ khoảng n m 1984 và c ng do Nhà nư c quản lý từ khoảng n m 1984 đến n m 2006. Từ n m 2007, UBND huyện B đã giao thửa 248 có thu tiền sử dụng cho ông H, ông H đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất l n đ u vào ngày 05/11/2009 và đư c cấp lại theo thông tin địa chính m i vào 22/02/2017. Quy tr nh các l n cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H đều đư c thực hiện đúng tr nh tự, thủ tục quy định và không có ai khiếu nại. Hiện ông T, bà N đồng ý trả giá trị đất b ng tiền cho ông H. Từ đó có c n cứ xác định thửa 248 ông H nhận quyền sử dụng h p pháp từ UBND huyện B nên thuộc quyền sử dụng h p pháp của ông, do vậy ông yêu c u ông T, bà T trả lại đất là có c n cứ theo các điều 197, 199, 221 Bộ luật dân sự. Do ông T, bà T có nhu c u sử dụng đất tranh chấp, ông H đồng ý cho ông T, bà T trả giá trị đất b ng tiền là 245.000.000 đồng thấp hơn so v i giá đất đã đư c định giá (giá trị đất tranh chấp là 252.000.000 đồng) là có l i cho ông T, bà T nên ghi nhận. Ông T rút lại yêu c u hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp cho ông H tại thửa 423, tờ 24 nên c n đ nh chỉ theo Điều 244 BLTTDS. C n cứ Điều 244 BLTTDS; các điều 197, 199, 221 Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ông H. Buộc bị đơn ông T, bà T trả cho ông H giá trị đất b ng tiền là 245.000.000 đồng. Ông T, bà T đư c quyền sử dụng và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i diện tích 56m2 thuộc thửa 423, tờ 24 tọa lạc xã Mỹ Hòa (Ba Tri – Bến Tre);

+ Đ nh chỉ đối v i yêu c u của ông T về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp cho ông H tại thửa 423, tờ 24.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục t tụng: tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị T và người đại diện h p pháp của Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre là ông Tr n V n M v ng mặt nhưng có v n bản yêu c u xét xử v ng mặt. Do đó việc đưa vụ án ra xét xử là ph h p v i quy định tại các điều 227, 228 BLTTDS.

Về nội dung: xét yêu c u khởi kiện của ông H về việc yêu c u ông T và bà T trả thửa đất 248, tờ 30 (nay là thửa 423, tờ 24) b ng tiền là 245.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nguồn gốc, quá tr nh sử dụng đất: c n cứ vào lời khai của các bên và kết quả xác minh có cơ sở xác định đất tranh chấp trư c đây có nguồn gốc của ông bà nội ông Trà Đ ng B là ông Trà V n N và bà Phùng Thị U. Đến n m 1984, đất trên đư c nhà nư c trưng thu làm ch và quản lý đến n m 2008. Ngày 13/4/2009, UBND huyện B ban hành quyết định số 985/QĐ-UBND giao cho hộ ông H sử dụng thửa đất trên (có thu tiền sử dụng đất) và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất l n đ u cho ông H vào ngày 05/11/2009. Sau đó, ông H đư c Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thông tin địa chính m i, giấy chứng nhận m i theo quy định vào ngày 22/02/2017. Việc ông T, bà T chiếm sử dụng đất tranh chấp từ n m 2014 đến nay là tự ý, không h p pháp, đã làm ảnh hưởng đến quyền l i ích chính đáng của ông H.

Về thẩm quyền, h nh thức, tr nh tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H tại thời điểm cấp l n đ u vào n m 2009 và cấp lại vào n m 2017 là đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, xét thấy đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng h p pháp của ông H, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông H là h p pháp, đúng quy định, hiện ông T, bà T c ng đồng ý trả lại đất tranh chấp b ng tiền nên xét yêu c u khởi kiện của ông H là hoàn toàn có c n cứ, ph h p v i quy định tại các điều 197, 199, 221 Bộ luật dân sự đư c Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nhu c u sử dụng và giá trị đất tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy ông T và bà T có nhu c u sử dụng đất, ông H c ng đồng ý cho ông T, bà T trả lại đất b ng tiền nên c n đư c xem xét. Tuy nhiên, xét giá trị đất tranh chấp do ông T tr nh bày (100.000.000 đồng) là không h p lý do không có c n cứ. Trong khi đó, c n cứ vào kết quả định giá, giá đất tranh chấp là 4.500.000đ/m2, thành tiền là 252.000.000 đồng, Do đó, xét thấy giá trị đất tranh chấp ông H yêu c u (245.000.000 đồng) đã có l i cho ông T, bà T bởi thấp hơn so v i giá đất đã đư c định giá và hoàn toàn có c n cứ nên đư c Hội đồng xét xử chấp nhận.

Riêng yêu c u hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CH 883764 do Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre cấp ngày 22/02/2017 cho ông H đối v i thửa 423, tờ 24 của ông T, tại phiên toà ông T rút yêu c u. Xét việc ông T rút yêu c u trên là hoàn toàn tự nguyện, ph h p v i quy định pháp luật tại Điều 244 BLTTDS nên đư c Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét quan điểm, đề nghị của Viện kiểm sát là ph h p v i nhận định của Hội đồng xét xử nên đư c chấp nhận.

Về chi phí tố tụng: 2.725.000 đồng, do yêu c u khởi kiện của ông H đư c chấp nhận nên ông T và bà T phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165 BLTTDS. Và do ông H đã nộp tạm ứng xong nên ông T và bà T phải có nghĩa vụ liên đ i trả lại cho ông H.

Về án phí DS – ST không có giá ngạch: do yêu c u khởi kiện của ông H đư c chấp nhận nên ông T và bà T phải liên đ i chịu. Tuy nhiên do ông T, bà T thuộc đối tư ng người cao tu i nên đư c miễn theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì caùc leõ treân.

QUYEÁT ÑÒNH

C n cứ vào khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, các điều 227, 228, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 197, 199, 221 Boä luaät daân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu c u khởi kiện của ông Tr n Việt H. Buộc ông Ph ng V n T và bà Nguyễn Thị T trả lại cho ông Tr n Việt H thửa đất 248, tờ 30 (nay là thửa đất 423, tờ 24), diện tích 56m2, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (có bản vẽ kèm theo) nhưng đư c tính b ng tiền là 245.000.000đ (hai tr m bốn mươi l m triệu đồng).

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu c u thi hành án của người đư c thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Sau khi thực hiện nghĩa vụ trả tiền, ông Ph ng V n T và bà Nguyễn Thị T đư c quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền để đ ng ký kê khai quyền sử dụng đất đối v i thửa đất 248, tờ 30 (nay là thửa đất 423, tờ 24), diện tích 56m2, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre từ ông Tr n Việt H chuyển sang (có bản vẽ kèm theo).

2. Đ nh chỉ yêu c u của ông Ph ng V n T về việc yêu c u hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng số phát hành CH 883764 do Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre cấp cho ông Tr n Việt H vào ngày 22/02/2017 đối v i thửa đất 423, tờ 24, diện tích 56m2, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre

3. Chi phí tố tụng: ông Ph ng V n T và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đ i trả lại cho ông Tr n Việt H số tiền 2.725.000đ (hai triệu bảy tr m hai mươi l m ngàn đồng).

4. Về án phí DSST:

Ông Ph ng V n T và bà Nguyễn Thị T đư c miễn nộp số tiền 300.000đ (ba tr m ngàn đồng) do thuộc đối tư ng người cao tu i.

Trả lại cho ông Tr n Việt H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.080.000đ (ba triệu không tr m tám mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0022168 ngày 09/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.

Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự coù quyeàn làm đơn khaùng caùo trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn, đương sự v ng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng th thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận đư c bản án hoặc đư c tống đạt h p lệ.

Cỡ chữ