vanban.org

Bản án 08/2019/TCDS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N (A).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng N yêu cầu anh D trả lãi và gốc theo hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N (A).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/TCDS-ST
Ngày: 31 - 10- 2019
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Cường và ông Văn Anh Trình

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Đức, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2019, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 12/2019/TLST-TCDS, ngày 18 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST - DS ngày 29/9/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2019/QĐST-TCDS ngày 14/10/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N (A); Địa chỉ: Số 18 Trần Hữu Dực, khu đô thị M, huyện T, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên A.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang Đ - Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Q (theo Quyết định số 510/QĐ-HĐTV-PC ngày 19 tháng 6 năm 2014 về việc ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án của chủ tịch hội đồng thành viên A). Ủy quyền lại cho bà Phạm Thị Khánh H, chức vụ: Phó Giám đốc A Chi nhánh huyện Q Quảng Bình – Phòng giao dịch D, tại văn bản ủy quyền số 57a/QĐ-NHNoQN ngày 20 tháng 4 năm 2019. Địa chỉ: thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

2. Bị đơn: Anh Trần Quý D, địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ 2.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Trần Công C, địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 29/3/2019, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (gọi tắt là Agribank) - Bà Phạm Thị Khánh Hòa trình bày:

Ngày 22/9/2017 anh Trần Quý D đứng tên vay vốn A chi nhánh huyện Q Quảng Bình - Phòng giao dịch D tại Hợp đồng tín dụng số 3803- LAV-201702437/HĐTD số tiền cho vay 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn cho vay là 36 tháng, kể từ ngày 22/9/2017, lãi suất 10%/năm; phân kỳ trả nợ 03 lần; phương thức trả lãi 06 tháng/kỳ vào ngày 22. Mục đích sử dụng vốn vay: Chi phí sản xuất, kinh doanh, đời sống hộ gia đình. Và người thừa kế trả nợ: Ông Trần Công C ( là bác Trần Quý D)

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ vay, anh Trần Quý D đã sử dụng tài sản tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 242/2017/HĐTC ngày 21/9/2017 và Văn bản thỏa thuận thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay số 242/2017/VBTT ngày 21/9/2017 đã ký giữa Ag Chi nhánh huyện Q Quảng Bình – Phòng giao dịch D và anh Trần Quý D, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và toàn bộ các tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BV 997892, có diện tích 2.131,9m2, thuộc thửa đất số 773, tờ bản đố số 09 do Ủy ban nhân dân huyện Quảng Ninh cấp ngày 31/12/2015 đứng tên: Ông Trần Quý D; vị trí lô đất tại thôn T, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình

Để đảm bảo việc thu hồi nợ vay cho Nhà nước, A - Chi nhánh huyện Q Quảng Bình đề nghị Tòa án huyện Quảng Ninh buộc anh Trần Quý D phải thanh toán cho A Chi nhánh huyện Q Quảng Bình - Phòng Giao dịch D tính đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 182.180.556 đồng (một trăm tám mươi hai triệu, một trăm tám mươi ngàn, năm trăm năm mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc 150.000.000 đồng, nợ lãi là 32.180.556 đồng (nợ lãi trong hạn 29.125.000 đồng; nợ lãi quá hạn 3.055.556 đồng) và số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký giữa A Chi nhánh huyện Q Quảng Bình - Phòng giao dịch D và anh Trần Quý D cho đến ngày anh Trần Quý D trả nợ xong cho A chi nhánh huyện Q Quảng Bình.

Trường hợp anh Trần Quý D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho A Chi nhánh huyện Q Quảng Bình đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản để thu hồi nợ vay gồm: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BV997892, có diện tích 2.131,9m2 (trong đó đất ở: tại nông thôn 200 m2, đất trồng cây hàng năm khác 1.931,9 m2), thuộc thửa đất số 773, tờ bản đố số 09 do Ủy ban nhân dân huyện Quảng Ninh cấp ngày 31/12/2015 đứng tên: Ông Trần Quý D; vị trí lô đất tại thôn T, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình

Bị đơn anh Trần Quý D không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không giam gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 24/7/2019 và ngày 04/9/2019 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Công C trình bày:

Năm 2017 để có vốn làm ăn nên Trần Quý D có vay vốn của Ngân hàng N chi nhánh D số tiền 150.000.000 đồng và ông là người thừa kế trả nợ. Nay ngân hàng thu hồi nợ ông đã treo bản bán đất để trả nợ cho ngân hàng nhưng không ai mua, do đó ông không có tiền để trả ngân hàng. Nay ông đề nghị ngân hàng khoanh nợ cho Trần Quý D, nếu không được đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phát sinh tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về hướng giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc anh Trần Quý D có trách nhiệm trả cho A Chi nhánh huyện Q Quảng Bình - Phòng giao dịch D số tiền 182.180.556 đ (một trăm tám mươi hai triệu, một trăm tám mươi hai ngàn, năm trăm năm mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc 150.000.000 đồng, nợ lãi là 32.180.556 đồng (nợ lãi trong hạn 29.125.000 đồng; nợ lãi quá hạn 3.055.556 đồng) và số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp anh Trần Quý D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho A Chi nhánh huyện Q Quảng Bình – Phòng giao dịch D đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản để thu hồi nợ vay gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BV 997892, có diện tích 2.131,9m2, ( trong đó đất ở: tại nông thôn 200 m2, đất trồng cây hàng năm khác 1.931,9 m2), thuộc thửa đất số 773, tờ bản đố số 09 do Ủy ban nhân dân huyện Quảng Ninh cấp ngày 31/12/2015 đứng tên: Ông Trần Quý D; vị trí lô đất tại thôn T, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam khởi kiện bị đơn anh Trần Quý D yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Quảng Ninh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét theo nội dung Hợp đồng tín dụng vay tiền, yêu cầu trả nợ của Ngân hàng N (A): Ngày 22 tháng 9 năm 2017, anh Trần Quý D đã ký Hợp đồng tín dụng với A chi nhánh huyện Q Quảng Bình – Phòng giao dịch D để vay số tiền 150.000.000 đồng, mục đích sản xuất, kinh doanh, đời sống hộ gia đình. Đến kỳ hạn trả nợ nhưng anh D không trả gốc và lãi, A chi nhánh huyện Q Quảng Bình – Phòng giao dịch D đã nhiều lần thông báo nợ quá hạn, vi phạm hợp đồng, xử lý tài sản đảm bảo, đôn đốc, kiểm tra, yêu cầu anh D trả nợ, anh D vẫn không trả. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm anh D còn nợ A Chi nhánh huyện Q Quảng Bình - Phòng giao dịch D tổng số tiền: 182.180.556 đồng (một trăm tám mươi hai triệu, một trăm tám mươi ngàn, năm trăm năm mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc 150.000.000 đồng, nợ lãi là 32.180.556 đồng (nợ lãi trong hạn 29.125.000 đồng; nợ lãi quá hạn 3.055.556 đồng).

Xét hợp đồng vay vốn giữa nguyên đơn với bị đơn được giao kết hợp pháp nên phát sinh hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản đã cam kết. Nhưng vì bị đơn vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên việc khởi kiện và yêu cầu bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn là có căn cứ theo quy định tại các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự và theo thỏa thuận Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số 3803- LVA-201702437/HĐTD.

Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 3803-LVA-201702437/HĐTD ngày 22/9/2017 mà hai bên đã ký kết, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lãi suất của hợp đồng vay 10%/năm. Thỏa thuận lãi suất này không vượt quá và đúng quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, sau khi vay tiền cho đến ngày khởi kiện anh D chưa trả nợ gốc, lãi cho A chi nhánh huyện Q Quảng Bình – Phòng giao dịch Dinh M là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn tại hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Sau kỳ hạn trả nợ cuối cùng, anh D không thanh toán nợ cho A nên A chuyển thành nợ quá hạn và tính lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn là phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Như vậy, yêu cầu của Nguyên đơn về tiền lãi là có căn cứ nên cần được xem xét chấp nhận, buộc anh D phải trả cho A chi nhánh huyện Q Quảng Bình – Phòng giao dịch D số tiền lãi là 32.180.556 đồng (nợ lãi trong hạn 29.125.000 đồng; nợ lãi quá hạn 3.055.556 đồng).

Về yêu cầu của A trong trường hợp anh Trần Quý D không trả được số nợ trên thì đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy, khi vay tiền để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng vay vốn, giữa A với anh Trần Quý D có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 242/2017/HĐTC ngày 21/9/2017 và Văn bản thỏa thuận thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay số 242/2017/VBTT ngày 21/9/2017, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BV 997892, có diện tích 2.131,9m2 ( trong đó đất ở: tại nông thôn 200 m2 đất trồng cây hàng năm khác 1.931,9 m2), thuộc thửa đất số 773, tờ bản đố số 09 do Ủy ban nhân dân huyện Quảng Ninh cấp ngày 31/12/2015 đứng tên: Ông Trần Quý D; vị trí lô đất tại thôn T, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình

Căn cứ vào các điều 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số 3803 – LAV – 201702437/HĐTD ngày 22/9/2017; Điều 5 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 242/2017/HĐTC ngày 21/9/2017, Văn bản thỏa thuận thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay số 242/2017/VBTT ngày 21/9/2017, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Agribank.

[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc anh Trần Quý D phải nộp 9.109.027 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 179, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 318, 319, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N (A). Buộc anh Trần Quý D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N số tiền: 182.180.556 đồng (một trăm tám mươi hai triệu, một trăm tám mươi hai nghìn, năm trăm năm mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi là 32.180.556 ( Ba mươi hai triệu, một trăm tám mươi ngàn, năm trăm năm mươi sáu đồng) (nợ lãi trong hạn 29.125.000 đồng; nợ lãi quá hạn 3.055.556 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trong trường hợp anh Trần Quý D không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 242/2017/HĐTC ngày 21/9/2017 và Văn bản thỏa thuận thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay số 242/2017/VBTT ngày 21/9/2017, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và toàn bộ các tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BV 997892, có diện tích 2.131,9m2 ( trong đó đất ở: tại nông thôn 200 m2, đất trồng cây hàng năm khác 1.931,9 m2), thuộc thửa đất số 773, tờ bản đố số 09 do Ủy ban nhân dân huyện Quảng Ninh cấp ngày 31/12/2015 đứng tên: Ông Trần Quý D, vị trí lô đất tại thôn T, xã D, huyệnQ, Quảng Bình

3. Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Quý phải nộp 9.101.000đ (Chín triệu, một trăm linh một ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng N được hoàn trả lại số tiền 4.285.000đ (Bốn triệu, hai trăm tám mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004730 ngày 17/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ