vanban.org

Bản án 08/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 24/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ph m Giang N ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” : X ph t bị cáo Ph m Giang N 18 tháng tù(mười tám) tháng tù. Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”: X ph t bị cáo Ph m Giang N 7 năm 6 tháng tù Bị cáo Ph m Giang N phải chấp hành hình ph t chung cho cả hai tội là 09 năm tù Thời h n tù tính từ ngày b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Giang N có hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ph m Giang N ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HSST
Ngày: 24-01-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H X HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T

N NH N D N TH NH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành h n H i ng

h g

:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Kim Dung

Các H i thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Chuyển

Bà Đỗ Thị Vân Anh

- Th

hi n à: Bà Trần Thị Lan Anh - Thư Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đ i di n Vi n i

nh n d n hành hố Vi t Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Lê Hƣơng - i m sát viên

Hôm nay, ngày 24 tháng 01 năm 2019 t i tr s Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét x s th m c ng hai v án hình sự th l số 173/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa v án ra xét x số: 09/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Giang N, sinh năm 1971 t i: Thủy Nguyên, Hải Phòng; N i Đ H TT: Đ7, phường Đổng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; Chỗ : xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ph m Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; vợ: Trần Thị M; con: có 02 con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án: 01 (Bản án hình sự s th m số 09/2015/HSST ngày 24/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc x ph t N 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 28/11/2014, N chấp hành hình ph t xong ngày 28/4/2017 và các quyết định khác của bản án), tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt t m giữ từ ngày 06/9/2018 đến ngày 09/9/2018 chuy n t m giam. Hiện bị cáo đang bị t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:

Chị Trần Thị M – sinh năm 1979 (vợ của bị cáo)

Đ H TT: th n C ng Bình, thị trấn L, huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NéI DUNG Vô ¸N:

Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 06/9/2018 t i tổ 8, phố Hòa Bình 1, phường Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ C ng an phường Bến Gót ki m tra, phát hiện bắt quả tang Ph m Giang N, sinh năm 1971, hộ kh u thường trú: Đ7, phường Đổng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; Chỗ : xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong có 01 gói giấy hai mặt đều màu trắng có dòng kẻ, bên trong gói giấy có chứa chất bột c c màu trắng, N khai nhận đây là gói ma túy Herroine m c đích đ s d ng cho bản thân; 01 điện tho i di động nhãn hiệu sam sung màu đen đã cũ số imei: 354728063711673 kèm theo 01sim trong máy; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa WAWE A màu đỏ bi n ki m soát: 88G-333.21, số khung: RLHJAS902HY125254, số máy: TA39E-0125314 C ng an phường Bến Gót đã tiến hành lập biên bản bắt người ph m tội quả tang, niêm phong vật chứng và chuy n toàn bộ hồ s đến C quan cảnh sát điều tra công an thành phố Việt Trì đ điều tra theo quy định.

C quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của Ph m Giang N. T i bản Kết luận giám định số 923/ LGĐ ngày 09/9/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

"Mẫu chất b t cục màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,229gam, loại: Heroine".

Hoàn trả l i 0,176 gam chất bột c c màu trắng cùng toàn bộ bao gói g i đến giám định.

* Heroine là chất ma túy nằm trong Danh m c I, số thứ tự 9, Nghị định số 73/2018/NĐ - CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Ngày 07/9/2018 C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì đã thi hành Lệnh khám xét kh n cấp n i của Ph m Giang N, quá trình khám xét không thu giữ gì.

C quan điều tra còn làm rõ, Nguyễn Giang N còn bán ma túy cho Nguyễn Thành G, sinh năm 1964, hộ kh u thường trú: Tổ 22, phố Hồng Hà 1, phường Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 02 lần vào ngày 02/9/2018 và ngày 04/9/2018, c th như sau:

Lần 1: Khoảng h n 16 giờ 02/9/2018 do bản thân là người nghiện ma túy và có mối quan hệ quen biết với Ph m Giang N nên Gia gọi điện tho i từ số 0919689655 của G đến số 01649836236 của N đ hỏi mua của N 1 000 000 đồng ma túy Heroine, N đồng ý bán và hẹn gặp Gia khu vực ngã tư đèn đỏ thuộc phường Thọ S n, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. T i đây, G đưa cho N 1 000 000 đồng, N cầm tiền và bảo G đứng chờ, khoảng h n một tiếng sau N quay l i đưa ma túy Heroine cho G. G cầm gói ma túy đi về và s d ng hết cho bản thân.

Lần 2: Khoảng 16 giờ ngày 04/9/2018, G gọi điện cho N hỏi mua của N 1 000 000 đồng ma túy heroin, N đồng ý bán và hẹn gặp G khu vực siêu thị Big C thuộc phường Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ G đưa cho N 1 000 000đồng, N cầm tiền và bảo G đứng chờ, khoảng h n một tiếng sau N quay l i đưa ma túy heroine cho G. G cầm gói ma túy đi về và s d ng hết cho bản thân.

Số tiền có được do bán ma túy cho G vào ngày 02 và ngày 04/9/2018, N đã tiêu sài cá nhân hết.

Nguồn gốc số ma túy bán cho G và bị bắt quả tang, N khai nhận:

- Ngày 02/9/2018, N một mình bắt xe khách đi đến khu vực đường bê tông (địa chỉ c th N không biêt rõ) thuộc thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc mua được của một nam thanh niên khỏang 36 tuổi, không quen biết được 02 gói ma túy đều có đặc đi m là gói nilon màu trắng, bên trong gói giấy hai mặt màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột c c màu trắng là ma túy Heroine với giá 600.000đồng Trên đường đi về N dừng ven đường vắng người s d ng hết một gói cho bản thân bằng hình thức tiêm chích, gói ma túy còn l i N tiếp t c bắt xe khách về đi m hẹn đưa l i cho G.

- Ngày 04/9/2018, N bắt xe hách đi xuống khu vực đường bê tông thuộc thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và mua được của một nam thanh niên khoảng 40 tuổi, không quen biết được 02 gói ma túy với giá 600 000 đồng Sau đó N lấy 01 gói ma túy ra s d ng cho bản thân, gói ma túy còn l i N cầm về đưa cho G

- Do bản thân nghiện ma túy Heroine, khoảng 13 giờ ngày 06/9/2018 N một mình điều khi n xe m t honđa WAWE A, bi n ki m soát: 88G1-333 21 đi đến khu vực chợ thuộc thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đ mua ma túy. N gặp và mua được của một người nam thanh niên khoảng 30 tuổi ( h ng rõ tên, địa chỉ) 01 gói ma túy có đặc đi m là gói ni lon màu trắng, bên trong có gói giấy hai mặt đều màu trắng có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột c c màu trắng là Heroine với giá 300 000đồng Mua được ma túy N đi lên thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ch i, trên đường đi N dừng l i ven đường vắng người m gói ma túy mua được tách ra một ít s d ng cho bản thân bằng hình thức tiêm chích, phần còn l i N gói l i như cũ và tiếp t c đi lên thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hi đi đến khu vực BigC thuộc tổ 8, phố Hòa Bình 1, phường Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì Tổ công tác c ng an phường Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ki m tra lập biên bản bắt người ph m tội quả tang như đã nêu trên

Đối với Nguyễn Thành G, là người nghiện chất ma túy, đã mua ma túy của N đ s d ng và đã s d ng hết, Công an thành phố Việt Trì đã ra Quyết định x ph t vi ph m hành chính đối với G về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định t i khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, mức ph t: Cảnh cáo, đồng thời trả l i cho Gia 01 điện tho i di động OPO đã cũ, số Imel 864543032106290 kèm sim trong máy số 0919689655.

Đối với những người nam thanh niên đã bán ma túy cho N ngày 02; 04/9/2018 và ngày 06/9/2018, do N không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của người này, nên C quan Cảnh sát điều tra h ng xác định được người đã bán ma túy cho N

Số tiền 21 000 đồng thu giữ của Ph m Giang N là tiền của N do lao động mà có.

Đối với 01 điện tho i nhãn hiệu Sam sung màu đen đã cũ có imei: 354728063711673 kèm theo 01sim trong máy là của N dùng đ liên l c và trao đổi mua bán ma túy với G.

01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa WAWE A màu đỏ bi n ki m soát: 88G-333.21, số khung: RLHJAS902HY125254, số máy: TA39E-0125314 là tài sản chung của vợ chồng N và chị Trần Thị M – sinh năm 1979, hộ kh u thường trú: Thôn Công Bình, thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Quá trình điều tra C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt trì đã làm rõ chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị M, việc N dùng xe m t trên đi mua ma túy chị M không biết. Ngày 09/10/2018, C quan cảnh sát điều tra công an thành phố Việt Trì đã trả l i chiếc xe mô tô trên cho chị Trần Thị M quản lý và s d ng theo quy định.

Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Qua xác minh, C quan điều tra xác định, bị cáo sống ph thuộc vào gia đình, bản thân chỉ có đồ dùng sinh ho t cá nhân và số tiền 21 000đồng đã bị thu giữ ngoài ra không có tài sản có giá trị.

T i phiên tòa, bị cáo Ph m Giang N khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của N như nội dung cáo tr ng đã truy tố đối với v án trên. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi ph m pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động c tư lợi cá nhân nhằm m c đích thỏa mãn ham muốn trái pháp luật của bản thân.

T i Cáo tr ng số 07/CT-VKSVT ngày 25/12/2018, Viện ki m sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Ph m Giang N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo đi m c khoản 1 Điều 249 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo đi m b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017.

T i phiên tòa, đ i diện Viện i m sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan đi m truy tố và đề nghị Hội đồng xét x : Tuyên bố bị cáo Ph m Giang N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo đi m c hoản 1 Điều 249 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo đi m b hoản 2 Điều 251; đi m s hoản 1, 2 Điều 51; đi m h hoản 1 Điều 52; Điều 38; đi m a, b, c hoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017.

Đối với tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” X ph t bị cáo N từ 18 đến 21 tháng tù

Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” X ph t bị cáo từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng Tổng hợp hình ph t từ 9 năm 6 tháng đến 10 năm tù Thời h n tù tính từ ngày bị cáo bị bắt t m giữ, t m giam (ngày 06/9/2018).

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp d ng hình ph t bổ sung cho bị cáo

Về xử lý vật chứng và án phí: Áp d ng theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét x vào phòng nghị án, bị cáo N nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi ph m tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được th m tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét x nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của C quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên, Viện ki m sát nhân dân thành phố Việt Trì, Ki m sát viên, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, Th m phán, Hội đồng xét x trong quá trình điều tra, truy tố, xét x đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ t c quy định t i Bộ luật tố t ng hình sự. Các quyết định tố t ng của các c quan tiến hành tố t ng đã được tống đ t cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa v liên quan đúng thời h n do pháp luật quy định. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa v liên quan không có ý kiến hoặc khiếu n i gì.

Đối với những người nam thanh niên đã bán ma túy cho N ngày 02; 04/9/2018 và ngày 06/9/2018 như N đã hai nhận, do không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của người này, nên C quan Cảnh sát điều tra h ng xác định được người đã bán ma túy cho N. Ngoài lời khai của N, không có tài liệu nào khác. Xét thấy trong hồ s không có tài liệu chứng minh về hành vi vi ph m pháp luật cũng như địa chỉ c th của nam thanh niên như N đã hai đ triệu tập tham gia phiên tòa, nên Tòa án không th triệu tập những người đó tham gia phiên tòa.

Về n i dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo t i phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đo n điều tra, truy tố, chứng cứ khác có trong hồ s v án. Hội đồng xét x có đủ căn cứ kết luận:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 06/9/2018 t i tổ 8, phố Hòa Bình 1, phường Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ph m Giang N có hành vi tàng trữ trái phép 0.229 gam ma túy Heroine đ s d ng đã bị Tổ c ng tác C ng an phường Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra trong khoảng thời gian từ ngày 02/9/2018 đến ngày 04/9/2018, t i thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, N còn bán ma túy Heroine cho Nguyễn Thành G 02 lần thu được 2 000 000đồng, c th : Lần thứ nhất: vào khoảng h n 16 giờ ngày 02/9/2018 t i ngã tư đèn đỏ thuộc phường Thọ S n, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, N bán cho G 01 gói ma túy heroine thu được 1 000 000đồng; Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 04/9/2018, t i khu vực Big C thuộc phường Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, N bán cho G 01 gói ma túy thu được 1.000 000đồng. Số ma túy Heroine cả hai lần G đã s d ng hết nên h ng xác định được khối lượng.

Do vậy, N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với khối lượng 0,229 gam Heroine đ s d ng theo đi m c khoản 1 Điều 249 và mua bán trái phép chất ma túy Heroine 02 lần cho Nguyễn Thành G theo đi m b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thu c m t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a,...

c, Heroine, Cocaine, methamphetamine, MDMA, hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm t i thu c m t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

b, Phạm t i 02 lần trở lên".

Xét thấy tính chất v án là thuộc trường hợp tội ph m rất nghiêm trọng Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm ph m đến chính sách độc quyền quản l của Nhà nước về chất ma tu Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và nó còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều lo i tội ph m hác Vì vậy cần x ph t tù đối với bị cáo mới có tác d ng giáo d c riêng và phòng ngừa chung.

Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình ph t tù ngày 28/4/2017, lần ph m tội này của bị cáo là tái ph m nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng quy định t i đi m h hoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017. T i C quan điều tra bị cáo đã thành h n hai báo, ăn năn hối cải, bố của bị cáo là ng Ph m Văn Q là người có c ng với cách m ng được nhà nước tặng thư ng Huy chư ng háng chiến h ng Nhì và Huân chư ng háng chiến h ng Nhì, nên bị cáo được hư ng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định t i đi m s hoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, biết hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là vi ph m pháp luật, bị cáo đã từng phải chịu hình ph t tù 03 năm cho hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo h ng lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn cố tình thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân bất hợp pháp của bị cáo, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật Vì vậy cần phải x bị cáo thật nghiêm, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian mới giáo d c bị cáo tr thành c ng dân có ích cho gia đình và xã hội

Về hình phạt bổ sung: T i c quan điều tra và t i phiên tòa h m nay bị cáo xác định h ng có nghề nghiệp ổn định, h ng có tài sản gì. Miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Đối với 01 bì niêm phong có số 923/ LGĐ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả 0,176 gam chất bộ c c màu trắng là mẫu vật còn l i sau giám định cần tịch thu tiêu hủy (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2018) là phù hợp.

Đối với 01 điện tho i nhãn hiệu Sam sung màu đen đã cũ có imei: 354728063711673 kèm theo 01sim trong máy là của N dùng đ liên l c và trao đổi mua bán ma túy với G, cần tịch thu sung quỹ nhà nước (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2018) là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa WAWE A màu đỏ bi n ki m soát: 88G-333.21, số khung: RLHJAS902HY125254, số máy: TA39E-0125314 là tài sản chung của vợ chồng N và chị Trần Thị M – sinh năm 1979, hộ kh u thường trú: Thôn Công Bình, thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Quá trình điều tra C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt trì đã làm rõ chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị M, việc N dùng xe m t trên đi mua ma túy chị M không biết. Ngày 09/10/2018, C quan cảnh sát điều tra công an thành phố Việt Trì đã trả l i chiếc xe mô tô trên cho chị Trần Thị M quản lý và s d ng theo quy định (Theo biên bản về việc trả l i đồ vật, tài liệu ngày 10/10/2018), chị M đã nhận l i đủ tài sản và t i C quan điều tra không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt h i gì, chị không có khiếu n i gì là phù hợp.

Đối với số tiền 21 000đồng C quan điều tra thu giữ của Ph m Giang N là tiền của N do lao động mà có, nên trả l i cho bị cáo nhưng cần t m giữ đ đảm bảo thi hành án là phù hợp.

Đối với số tiền 2 000 000đồng là tiền bị cáo đã 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Thành G ngày 02/9/2018 và ngày 04/9/2018 cần tịch thu của bị cáo đ sung quỹ nhà nước là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự s th m theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào đi m c khoản 1 Điều 249; đi m b khoản 2 Điều 251; đi m s khoản 1, 2 Điều 51; đi m h khoản 1 Điều 52; Điều 38; đi m a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017; đi m a, b, c khoản 2, 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015; đi m a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội.

1. Tuyên bố bị cáo Ph m Giang N ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

- Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” : X ph t bị cáo Ph m Giang N 18 tháng tù(mười tám) tháng tù.

- Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”: X ph t bị cáo Ph m Giang N 7 năm 6 tháng tù Bị cáo Ph m Giang N phải chấp hành hình ph t chung cho cả hai tội là 09 năm tù Thời h n tù tính từ ngày bị cáo bị bắt t m giữ t m giam (ngày 06/9/2018);

Hình ph t bổ sung: Miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo.

2. Về x lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong có số 923/ LGĐ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả 0,176 gam chất bột c c màu trắng là mẫu vật còn l i sau giám định;

- Buộc bị cáo phải nộp sung quỹ nhà nước của bị cáo số tiền 2 000 000đồng(Hai triệu đồng) là tiền bị cáo bán Heroine cho Nguyễn Thành G.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện tho i nhãn hiệu Sam sung màu đen đã cũ có số imei: 354728063711673 kèm theo 01sim trong máy;

- Trả l i cho bị cáo số tiền 21 000đồng( Hai mươi mốt nghìn đồng) nhưng t m giữ đ đảm bảo thi hành án. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2018).

- Xác nhận C quan điều tra Công an thành phố Việt Trì đã trả l i cho Trần Thị M - sinh năm 1979, hộ kh u thường trú: Thôn Công Bình, thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa WAWE A màu đỏ bi n ki m soát: 88G-333.21, số khung: RLHJAS902HY125254, số máy: TA39E-0125314 (Theo biên bản về việc trả l i đồ vật, tài liệu ngày 10/10/2018).

3. Về án phí hình sự s th m: Buộc bị cáo Ph m Giang N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự s th m.

Trong thời h n 15 ngày, k từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đ yêu cầu xét x phúc th m; Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đ yêu cầu xét x phúc th m k từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật. N i nhận:

Cỡ chữ