- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng Thị M phạm tôi mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sùng Thị M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08 /2019/HSST Ngày 28 tháng 02 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Trung Dong;
2. Bà: Phạm Thị Hòa;
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Trung Kiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2019/HSST ngày 18 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/HSST ngày 15 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ tên: Sùng Thị M (tên gọi khác: Không); Sinh năm 1966 (không xác định được ngày tháng sinh). Nơi sinh: Huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Thôn Ph, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: H.Mông; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không biết chữ. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Con ông: Sùng A V (đã chết) và bà Thào Thị C (đã chết). Chồng: Vàng A N, sinh năm 1967 (đã chết). Con: Có 05 (năm) con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 2000.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/12/2018; tạm giam ngày 22/12/2018; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Sùng Thị M: Bà Nguyễn Thị Hương Thủy - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
Người phiên dịch: Ông Sùng A Páo;
Địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Bát Xát, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 13/12/2018, Sùng Thị M đi bộ từ nhà đến khu vực rừng già thuộc thôn Mò Phú Chải, xã Y Tý, huyện Bát Xát để lấy rau về cho lợn ăn. Khi đi đến thôn Mò Phú Chải, Sùng Thị M gặp một người phụ nữ không quen biết dân tộc Dao, người phụ nữ này nói với Sùng Thị M “Có mua Hêrôin về bán không”, Sùng Thị M nảy sinh ý định mua Hêrôin về để bán kiếm lời và mua của người phụ nữ này 01 (một) gói Hêrôin được gói bằng nilon màu hồng với giá 500.000 (năm trăm nghìn) đồng. Sau khi mua được Hêrôin, Sùng Thị M cất vào túi vải màu đen đeo trước bụng và đi về nhà. Về đến nhà, Sùng Thị M dùng móng tay chia nhỏ gói Hêrôin vừa mua được thành 09 (chín) gói không bằng nhau và cho vào một lọ nhựa hình trụ tròn có nắp đậy màu trắng rồi cất vào túi vải màu đen đeo trước bụng. Đến khoảng 12 giờ 20 phút ngày 16/12/2018, Sùng Thị M đang ở nhà thì Bùi Văn Quang, sinh năm 1969, trú tại thôn Lao Chải 1, xã Y Tý, huyện Bát Xát đến hỏi “Có hàng (tức Hêrôin) bán không”, Sùng Thị M trả lời “Có một ít”, Bùi Văn Quang đưa cho Sùng Thị M số tiền 100.000 (Một trăm nghìn) đồng và nói “Mua hai con”. Sùng Thị M nhận tiền và lấy từ trong lọ nhựa hình trụ tròn 02 (hai) gói Hêrôin được gói bằng nilon màu hồng đưa cho Bùi Văn Quang. Sau đó, Sùng Thị M đi xuống bếp đun nước, còn Bùi Văn Quang ở tại phòng khách nhà Sùng Thị M sử dụng hết 01 (một) gói Hêrôin, gói còn lại Bùi Văn Quang đang cầm ở tay phải thì bị tổ công tác của Công an huyện Bát Xát phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật. Thu giữ của Bùi Văn Quang 01 (một) gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục (Bùi Văn Quang khai nhận là Hêrôin vừa mua của Sùng Thị M), thu giữ của Sùng Thị M 01 (một) túi vải màu đen, bên trong đựng 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn có nắp đậy màu trắng, bên trong chứa 07 (bảy) gói nilon màu hồng, trong các gói này đều chứa chất bột khô màu trắng vón cục (Sùng Thị M khai nhận là Hêrôin mua về để bán kiếm lời), tiền Việt Nam: 100.000 (Một trăm nghìn) đồng (Sùng Thị M khai nhận là tiền vừa bán Hêrôin cho Bùi Văn Quang mà có).
Ngày 17/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã ra Quyết định trưng cầu giám định về chất ma túy số 11 đối với vật chứng đã thu giữ của Bùi Văn Quang và Sùng Thị M ngày 16/12/2018.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 18/12/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã xác định:
- Bì M1: 01 (một) gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục thu giữ của Bùi Văn Quang ngày 16/12/2018 có khối lượng là 0,09 (không phẩy không chín) gam. Trích mẫu 0,02 (không phẩy không hai) gam để tiến hành giám định, còn lại 0,07 (không phẩy không bảy) gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.
- Bì M2: 07 (bảy) gói nilon màu hồng, bên trong các gói này đều chứa chất bột khô màu trắng, vón cục thu giữ của Sùng Thị M ngày 16/12/2018 có tổng khối lượng là 0,60 (không phẩy sáu mươi) gam. Trích mẫu 0,04 (không phẩy không bốn) gam để tiến hành giám định, còn lại 0,56 (không phẩy năm mươi sáu) gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.
Tại bản kết luận giám định số 21/GĐMT ngày 18/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận:
- Bì M1: 0,09 (không phẩy không chín) gam chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Bùi Văn Quang ngày 16/12/2018 là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
- Bì M2: 0,60 (không phẩy sáu mươi) gam chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Sùng Thị M ngày 16/12/2018 là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
Bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 17 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Sùng Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã nhận tội, như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 2 (hai) năm 3 (ba) tháng đến 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,63 (không phẩy sáu mươi ba) gam Heroine, 01 (một) túi vải màu đen, 01 (lọ) nhựa hình trụ tròn có nắp đậy màu trắng và tịch thu sung quỹ nhà nước 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 2 (hai) năm tù.
Tại phiên Tòa bị cáo Sùng Thị M thành khẩn khai báo, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử, xử mức án nhẹ nhất để sớm về đoàn tụ gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác đã có trong hồ sơ.
Như vậy Sùng Thị M do hám lời nên khoảng 10 giờ ngày 13/12/2018, Sùng Thị M đã gặp một người phụ nữ không quen biết dân tộc Dao, mua 500.000 (năm trăm nghìn) đồng được 01 (một) gói Hêrôin mục đích mua về để bán kiếm lời. Sùng Thị M chia nhỏ thành 09 (chín) gói, đến ngày 16/12/2018 Sùng Thị M vừa bán cho Bùi Văn Quang 02 gói Heroine với giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng thì bị bắt, Sùng Thị M đã có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và khung hình phạt được qui định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ma túy thu giữ của bị cáo có khối lượng là là 0,69 (không phẩy mười ba) gam. Tại bản kết luận giám định số 21/GĐMT ngày 18/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: Bì M1: 0,09 (không phẩy không chín) gam chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Bùi Văn Quang ngày 16/12/2018 là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin). Bì M2: 0,60 (không phẩy sáu mươi) gam chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Sùng Thị M ngày 16/12/2018 là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin); Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Xét nhân thân bị cáo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên toà hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Sùng Thị M ngày 13/12/2018 do Sùng Thị M không biết tên, tuổi và địa chỉ, ngoài lời khai của Sùng Thị M ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Văn Quang tại nơi ở của Sùng Thị M, do Bùi Văn Quang đã tự ý sử dụng ma túy và Sùng Thị M không biết nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý Sùng Thị M về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.
Đối với hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Văn Quang. Quá trình điều tra, do Bùi Văn Quang không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa chứng minh làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng:
Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 0,69 (không phẩy sáu mươi chín) gam Heroine, đã trích mẫu giám định mẫu 0,06 (không phẩy không sáu) gam để tiến hành giám định, còn lại 0,63 (không phẩy sáu mươi ba) gam, 01 (một) túi vải màu đen, 01 (lọ) nhựa hình trụ tròn có nắp đậy màu trắng và 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Đây là vật chứng của vụ án, áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,63 (không phẩy sáu mươi ba) gam Heroine, 01 (một) túi vải màu đen, 01 (lọ) nhựa hình trụ tròn có nắp đậy màu trắng và tịch thu sung quỹ nhà nước 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).
Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 qui định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo chịu án phí theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Sùng Thị M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Xử phạt bị cáo Sùng Thị M 2 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 16 tháng 12 năm 2018.
2. Về vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tịch thu tiêu hủy 0,63 (không phẩy sáu mươi ba) gam Heroine được đựng trong một bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Sùng Thị M có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, thu giữ ngày 16 tháng 12 năm 2018 tại thôn Phan Cán Sử, xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” và 01 (một) túi vải màu đen, 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn có nắp đậy màu trắng.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) được niêm phong trong một bì thư do Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai gửi vào Kho bạc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, trên mặt trước của bì niêm phong có ghi “Tiền tạm thu trong vụ: Sùng Thị M bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy ngày 16/12/2018 tại Thôn Phan Cán Sử, xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”.
3. Án phí: Bị cáo Sùng Thị M phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKS, TA tỉnh; - VKSND H. Bát Xát; - Bị cáo; - Công an H. Bát Xát (2); - THA DS;- THA HS; - Lưu HS-TA (2). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Báo c¸o ¸n: Vô ¸n h×nh sù: TPHoµng Duy ChiÕn. Nam; Sinh ngày: 03/3/1990 tại tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn 3, xã Đồng Tuyển, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Ngô Văn Cường và bà Vũ Thị Duyên; có vợ Lê Thanh Sinh và 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.Nhân thân bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy. 05/5/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam tại Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị Duyên; Địa chỉ: Thôn 3, xã Đồng Tuyển, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Người làm chứng: - Anh Nguyễn Văn Mạnh; Địa chỉ: Xóm 10, xã Chính Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; - Chị Hà Thị Hợp; Địa chỉ: Tổ 21, phường Duyên Hải, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. NỘI DUNG VỤ ÁN: biển kiểm soát 24P5 – 7911 đi từ nhà tại thôn 3, xã Đồng Tuyển, huyện Bát Xát đến bến xe trung tâm thuộc tổ 19, phường Bình Minh, huyện Bát Xát mục đích mang quần để gửi xe khách xuống Hà Nội cho vợ là Lê Thanh Sinh. Trên đường đi do bản thân nghiện chất ma túy, Sùng Thị M đã đến khu vực Cầu Sắt thuộc xã Cam Đường, huyện Bát Xát để tìm mua Heroine. Khi đến nơi Sùng Thị M gặp một người đàn ông tên Nghị (không biết rõ tuổi, địa chỉ) đặt vấn đề hỏi mua ma túy Heroine và mua của người này 02 gói ma túy Heroine với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) khi mua được ma túy Sùng Thị M đã lấy chiếc quần bò đùi ở trong túi nilon ra để cất giấu 02 gói ma túy Heroine vào trong túi bên phải, sau đó để lại chiếc quần đó vào trong túi nilon tiếp tục điều khiển xe mô tô đến bến xe trung tâm. Khi đến nơi Sùng Thị M đã cầm chiếc túi nilon đó vào cửa phòng bán vé xe khách Sao Việt. Khi Sùng Thị M đang định lấy 02 gói ma túy Heroine ra khỏi túi quần thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,45 (Không phẩy bốn mươi lăm) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là chất ma túy Heroine (Hêrôin). Heroine (Hêrôin) thuộc danh mục I, số thứ tự 20, Nghị định số 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Sùng Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điêu 249 Bộ luật hình sự năm 2015. QUAN ĐIỂM Tuyên bố bị cáo Sùng Thị M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 29 tháng 4 năm 2019. 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tịch thu tiêu hủy 0,33 (không phẩy ba mươi ba) gam Heroine được đựng trong một bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Sùng Thị M có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 29 tháng 4 năm 2019 tại tổ 19, phường Bình Minh, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” và 01 túi nilon màu xanh. đùi màu xanh đã bị rách; 01 chiếc quần bò dài. 354563052436556 để đảm bảo thi hành án 24P5 – 7911 có số khung 88B034141, số máy 90034141 xe cũ đã qua sử dụng; phí Hình sự sơ thẩm. quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Duy Chiến THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Duy Chiến Họ và tên: Họ và tên: Sùng Thị M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Bị cáo Sùng Thị M bị bắt, tạm giữ ngày 29/4/2019, tạm giam ngày Khoảng 6 giờ ngày 29/4/2019 Sùng Thị M một mình điều khiển xe mô tô Tại Kết luận giám định số 91/GĐMT ngày 02/5/2019 của Phòng kỹ thuật Bản cáo trạng số 62/KSĐT ngày 10 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát Căn cứ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 1. Xử phạt bị cáo Sùng Thị M 1 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình 2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm Trả lại cho bị cáo 01 sim có số thuê bao 01657321928; 01 chiếc quần bò Tạm giữ 01 điện thoại NOKIA màu đen đã qua sử dụng có số imel: Trả lại cho bà Vũ Thị Duyên 01 xe mô tô nhãn hiệu S.PHONDA BKS 3. Án phí: Bị cáo Sùng Thị M phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn) tiền án Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 |