vanban.org

Bản án 08/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 23/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về áp dụng điều luật:

Tuyên bố các bị cáo: Phạm Chí Th, Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh phạm tội “ đánh bạc”. Về Hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về áp dụng điều luật:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MÔ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HSST
Ngày 23 tháng 01 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Thao

2. Ông Phạm Thanh Liêm

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Xuân Ngọc – Thẩm tra viên Toà án nhân dân

huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham

gia phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2019/TLST - HS ngày 03 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/ QĐXXST – HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

1.

Phạm Chí Th, tên gọi khác Phạm Văn Th; sinh năm 1981; nơi ĐKNKTT: xóm 4, Đông Sơn, xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Trường T ( liệt sỹ) và bà Lâm Thị Ph; Vợ Vũ Ngọc L, con có 4 con, con lớn nhất sinh năn 2006 con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: có 03 tiền án: Tại bản án số 14/2005/HSST ngày 25/10/2005 Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 6 tháng tù , phạt bổ sung 5.000.000đồng về tội “ đánh bạc” chấp hành toàn bộ bản án vào ngày 06/7/2018; Bản án số 23/2013/HSST ngày 31/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 18 tháng tù, phạt bổ sung 3.000.000đồng, án phí 200.000đồng về tội “ đánh bạc” chấp hành toàn bộ bản án vào ngày 06/7/2018; Bản án số 17/2016/HSST ngày 16/9/2016 Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 3.000.000đồng, án phí 200.000đồng về tội “ đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ ngày 24/10/2017. Ngày 06/7/2018 chấp hành xong hình phạt bổ sung, án phí. Tiền sự: có 02 tiền sự Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 65 ngày 31/7/2012 bị Công an huyện Yên Mô xử phạt 1.500.000đồng về hành vi “ Đánh bạc” nộp tiền phạt vào ngày 20/9/2018; Tại quyết định xử phạt hành chính số 27 ngày 17/6/2018 của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Ninh Bình xử phạt 2.000.000đồng về hành vi “ đánh bạc” chấp hành xong ngày 18/6/2018. Nhân thân: Tại bản án số 08/HSST ngày 24/10/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2.

Trịnh Danh T, sinh năm 1971, nơi ĐKNKTT: xóm 6, xã Đồng Hướng, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: nhân viên bán xăng; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Xuân T và bà Vũ Thị C; Vợ Trịnh Thị H, con có 2 con, con lớn sinh năn 1992 con nhỏ sinh năm 1998; Tiền án: không; Tiền sự : không; Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp tạm giữ từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3.

Hoàng Anh D, sinh năm 1985 ; nơi ĐKNKTT: Số 582, đường Trần Hưng Đạo, khu 9 phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Anh Đ (đã chết) và bà Tạ Thị Th; Vợ Đinh Thị Thu H, con có 2 con, con lớn sinh năn 2013 con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: không; Tiền sự : không; Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp tạm giữ từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4.

Đinh Trọng Kh, sinh năm 1972; nơi ĐKNKTT: Xóm 1, Đông Yên, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Hiến C ( đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngh; Vợ Đinh Thị Ph ( đã ly hôn), con có 2 con, con lớn sinh năn 2003 con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: không; Tiền sự : không; Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp tạm giữ từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trần Văn Ch, sinh năm 1983, thôn Phù Sa, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ( Vắng mặt)

2. Chị Vũ Ngọc L, sinh năm 1982, trú tại Xóm 4, Đông Sơn, xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ( có mặt);

3. Anh Lê Xuân H, sinh năm 1972, trú tại xóm 5, xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khi giải bóng đá World Cup 2018 thế giới đang diễn ra. Phạm Chí Th nẩy sinh ý định cá độ bóng đá được thua bằng tiền với những người khác để thu lợi bất chính, nên đầu tháng 7/2018, Th gặp Trịnh Danh T là nhân viên bán xăng dầu tại cửa hàng xăng dầu Yên Lâm, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nên Th rủ T cá độ bóng đá với những người khác rồi chuyển cho Th. Th Thỏa thuận với T, Th sẽ gửi kèo ( tỷ lệ cá độ) trước khi trận đấu diễn ra để người chơi lựa chọn kèo cá độ sẽ đối chiếu trả thưởng và thanh toán trực tiếp tiền thắng thua sau khi trận đấu kết thúc, T đồng ý. Đêm ngày 07/7/2018 Tuyên ngồi tại cửa hàng xăng dầu dùng điện thoại di động của mình nhắn tin cho Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh, Trần Văn Ch, Lê Xuân H rủ 4 người chơi cá độ bóng đá được thua bằng tiền trận đấu Croatia với đội tuyển Nga diễn ra vào 01 giờ ngày 08/7/2018, cách thức chơi, hình thức chơi và thanh toán như Th và T đã thỏa thuận, thì 4 người đồng ý chơi.

Sau khi rủ được Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh, Trần Văn Ch, Lê Xuân H chơi cá độ Trịnh Danh T sử dụng điện thoại di động Iphone 5 có sim số thuê bao 0912667314 nhắn đến số điện thoại của Th có số thuê bao 0971581981 và hỏi tỷ lệ cá độ trận Croatia với đội tuyển Nga diễn ra vào 01 giờ sáng ngày 08/7/2018. Khoảng 23 giờ cùng ngày Th nhắn lại cho T kéo cá độ bóng đá hiệp 1 và cả trận giữa Croatia với đội tuyển Nga cụ thể “Croatia chấp ½ ăn 90, dưới ăn 75, Tài xỉu 2 ¼ tài ăn 95 xỉu ăn 70; Hiệp 1 Croatia chấp ¼ tài ăn 90, xỉu ăn 73; tài xỉu 1 hòa, tài ăn 80 xỉu ăn 85” Nhận tin nhắn của Th T đồng ý và sử dụng điện thoại nhắn lại cho Th “ OK” xác nhận.

Sau khi nhận nội dung kèo cược cá độ của Th, T ngồi tại cửa hàng xăng dầu dùng điện thoại chuyển toàn bộ nội dung kèo vừa nhận “ Croatia chấp ½ ăn 90, dưới ăn 75, Tài xỉu 2 ¼ tài ăn 95 xỉu ăn 70; Hiệp 1 Croatia chấp ¼ tài ăn 90, xỉu ăn 73; tài xỉu 1 hòa, tài ăn 80 xỉu ăn 85” đến điện thoại của Hoàng Anh D; đến số Zalo của Đinh Trọng Kh; đến số di động của Trần Văn Ch; đến số điện thoại của Lê Xuân H. D, Kh, Ch và H nhận được tin nhắn gửi kèo cá độ của T vừa gửi đến 4 người đồng ý. Khoảng 23 giờ 19 phút ngày 07/7/2018, Lê Xuân H nhắn tin tuyên “bắt Nga 500 hiệp 1” nghĩa là H đặt kèo đội tuyển Nga đặt cược số tiền 500.000đồng; hồi 23 giờ 24 phút, Kh nhắn tin cho T “đánh xỉu 2 tr, trận đánh Nga 2tr” nghĩa là Kh đặt cược kèo “ Xỉu” số tiền 2.000.000đồng, đặt cược đội tuyển Nga số tiền 2.000.000 đồng, tổng số tiền Kh đặt cược là 4.000.000đồng; Khoảng 23 giờ 41 phút D nhăn tin cho T “6 tr Nga, 10tr tài Nga, 3 tr tài hiệp 1 Nga anh nhé” nghĩa là D đặt kèo đội tuyển Nga số tiền 6.000.000đồng, đặt cược tài số tiền 10.000.000đồng, đặt cược kèo tài hiệp 1 số tiền 3.000.000đồng, tổng số tiền D đặt cược là 19.000.000đồng. Hồi 00 giờ 52 phút ngày 08/7/2018, Ch nhắn tin đến số điện thoại cho T “bắt Croatia 500n”, nghĩa là Ch đặt kèo cả trận chọn đội Croatia số tiền 500.000đồng. Sau khi nhận tin nhắn đặt kèo cá độ của H, Kh, D, Ch. T nhắn tin đồng ý “ OK” xác nhận với H, Kh, D và Ch .

Sau khi nhận được tin nhắn đặt cược của H, Kh, D, Ch với tổng số tiền là 24.000.000đồng. Hồi 00 giờ 40 phút ngày 08/7/2018, T dùng điện thoại nhắn đến số điện thoại của Th chuyển 4 kèo với tổng số tiền 15.500.000 đồng cụ thể “ trận 4 triệu bắt Nga, 8 triệu tài, 3 tr tài hiệp 1, hiệp 1 bắt Nga 500 ng” nghĩa là kèo cả trận đội tuyển Nga số tiền 4.000.000đồng, kèo cả trận cược số tiền 8.000.000đồng, tài hiệp 1 đặt cược số tiền 3.000.000đồng, kèo hiệp 1 chọn đội tuyển Nga đặt cược số tiền 500.000đồng. Số còn lại Trịnh Danh T giữ lại để tự đánh với những người chơi. Th đang ở nhà thì nhận được tin nhắn do T chuyển đến, Th đồng ý và xác nhận “ OK” gửi cho T.

Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 08/7/2018 sau khi hiệp 1 kết thúc, Th sử dụng điện thoại nhắn kèo cá độ trong hiệp 2 cho T cụ thể “Hiệp 2 Croatia chấp ¼ ăn 80; dưới ăn 85; tài xỉu 3 ¼ tài ăn 90, xỉu ăn 70”. Sau khi nhận kèo của Th, T sử dụng điện thoại chuyển toàn bộ nội dung kèo vừa nhận cho H. Khoảng 2 giờ cùng ngày H nhắn tin cho T “ bắt Nga 500ng nhé” nghĩa là hiệp 2 chọn đội tuyển Nga đặt cược 500.000đồng, T đồng ý nhắn “OK” cho H.

Kết quả hai hiệp đấu chính thức giữa đội tuyển Nga và Croatia( hiệp 1 tỷ số là 1 – 1; hiệp 2 tỷ số là 1 – 1) như vậy số tiền đánh bạc của T, Th, D, Kh, Ch, H như sau:

Trịnh Danh T nhận tổng số tiền kèo cá độ bóng đá 24.500.000đồng bao gồm ( của D 19.000.000đồng; của Kh 4.000.000đồng; của Ch 500.000 đồng; của H 1.000.000 đồng) Kết thúc trận đấu, T thua D 6.900.000 đồng, thua Kh 2.200.000đồng, thua Ch 395.000đồng. Ngoài ra T còn hưởng chênh lệch số tiền 300.000đồng từ việc chuyển kèo cá độ cho Th. Như vậy số tiền T sử dụng vào việc đánh bạc là 34.295.000đồng.

Phạm Chí Th nhận tổng số tiền kèo cá độ bóng đá 15.500.000đồng của T, đối chiếu với kết quả trận đấu Th thua số tiền 5.882.500 đồng. Như vậy số tiền Th sử dụng vào việc đánh bạc là 21. 382.500đồng.

Hoàng Thanh D sử dụng số tiền 19.000.000đồng đặt kèo với T, đối chiếu với kết quả trận đấu D thắng 6.900.000đồng. Như vậy số tiền D sử dụng vào việc đánh bạc là 25.900.000đồng.

Đinh Trọng Kh sử dụng số tiền 4.000.000đồng đặt kèo với T, đối chiếu với kết quả trận đấu Kh thắng T số tiền 2.200.000đồng. Như vậy số tiền Kh sử dụng vào việc đánh bạc là 6.200.000đồng.

Trần Văn Ch sử dụng số tiền 500.000 đồng đặt kèo với T, so với kết quả trận đấu, Ch thua số tiền đặt cược với T. Như vậy số tiền Ch sử dụng vào việc đánh bạc là 500.000đồng.

Lê Xuân H sử dụng số tiền 1.000.000đồng đặt kèo với T, so với kết quả trận đấu H thắng số tiền 395.000đồng. Như vậy số tiền H sử dụng vào việc đánh bạc là 1.395.000 đồng.

Nhận được tin báo của Công an xã Yên Lâm, chiều ngày 08/7/2018 Công an huyện Yên Mô triệu tập T đến làm việc, T đã khai nhận hành vi cá độ bóng đá với Th, D, Kh, H và giao nộp chiếc điện thoại di động Iphone 5 có số thuê bao 0912667314. Công an tiến hành làm việc với Th, D, Kh, H và Ch tất cả đều khai nhận hành vi cá độ bóng đá cùng T. Th tự giác giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6S lắp sim số thuê bao 0971581981; D giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Oppo F5 lắp sim số thuê bao 01297579666 và 0968332226; H tự giác giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime lắp sim thuê bao 0976051260; Ch tự giác giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 lắp sim thuê bao 0989930283; Kh tự giác giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 lắp sim thuê bao 0906294276 và 01297013368.

Tiến hành khán xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Chí Th, Cơ quan điều tra có thu giữ 01 ví giả da; 01 chứng minh thư nhân dân; 01 giấy phép lái xe; 01 thẻ ATM mang tên Phạm Chí Th và số tiền 1.810.000đồng; Tại nhà Th cơ quan điều tra còn thu giữ 01 mảnh bìa cây thuốc lá Thăng Long và 01 mảnh bìa cây thuốc lá Vinataba có ghi các số lô, số đề.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J3 Khoản sử dụng để nhắn tin qua ứng dụng Zalo để cá độ bóng đá với T, Kh khai đã bị mất do đó cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 02 tháng 1 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố bị can: Phạm Chí Th cùng ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo điểm d, khoản 2, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Truy tố các bị can Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô rút một phần cáo trạng đã truy tố Phạm Chí Th từ điểm d khoản 2 ( tái phạm nguy hiểm) xuống khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; các điểm s, x khoản 1; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với Phạm Chí Th ( tên gọi khác Phạm Văn Th):

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh; ( riêng đối với Trịnh Danh T áp dụng thêm điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự) Áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự đối với Đinh Trọng Kh.

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Th, Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh phạm tội “ đánh bạc”.

Về hình phạt: + Xử phạt Phạm Chí Th ( Phạm Văn Th) từ 09 đến 12 tháng tù, thời gian phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam; phạt bổ sung từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000đồng.

Phạt tiền bị cáo Trịnh Danh T từ 40.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng; bị cáo Hoàng Anh D từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000đồng; Đinh Trọng Kh từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000đồng.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .

Truy thu nộp ngân sách nhà nước: Buộc Phạm Chí Th phải nộp số tiền 5.882.500 đồng; Trịnh Danh T phải nộp số tiền 3.912.500 đồng; Hoàng Anh D phải nộp số tiền 19.000.000đ; Đinh Trọng Kh phải nộp số tiền 4.000.000đ; Lê Xuân H phải nộp số tiền 1.000.000đ ;Trần Văn Ch phải nộp số tiền 500.000đồng để sung nộp ngân sách Nhà nước.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng; số IMEI 35334070289179; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu đen số IMEI: 013738001985423; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, màu đen số IMEI1: 866907032346131, số IMEI2: 86690732346123; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prine màu đen có sô IMEI1: 3576250854469101, số IMEI2: 35765108544691101; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prine màu vàng có sô IMEI1: 35323607275032901, số IMEI2: 353237072750332701.

Trả lại cho Đinh Trọng Kh chiếc điện thoại Nokia 105, màu xanh bên trong lắp sim 0906294276 và 01297013368.

Trả lại cho Phạm Chí Th số tiền 1.810.000đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

Trả lại cho Phạm Chí Th 01 ví giả da màu đen; 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Chí Th; 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Chí Th; 01 thẻ ATM mang tên Phạm Chí Th.

Trả lại cho các bị cáo các sim đã đăng ký thuê bao của mình.

+ Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án buộc các bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Các bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội và đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cũng như vật chứng được thu giữ có đủ căn cứ để xác định. Vào đêm ngày 07/7/2018, rạng sáng ngày 08/7/2018 trước khi diễn ra trận đấu trong khuôn khổ World Cup 2018 giữa đội tuyển Nga với đội tuyển Croatia. Tại cửa hàng xăng dầu Yên Lâm, thuộc thôn Đông Đoài, xã Yên Lâm, Trịnh Danh T thông qua điện thoại di động T đã có hành vi nhận kèo cá độ bóng đá với Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh, Lê Xuân H và Trần Văn Ch với tổng số tiền 24.500.000 đồng ( trong đó của D 19.000.000đồng, của Kh 4.000.000đồng, của H 1.000.000 đồng, của Ch 500.000đồng) sau khi nhận kèo của D, Kh, H và Ch. T đã chuyển cho Phạm Chí Th 15.500.000 đồng và giữ lại 9.000.000 đồng để mình tự trả thưởng. Sau khi kết thúc hai hiệp chính trận đấu kết thúc, so với kết quả trận đấu mà các bên đã cá độ thì D thắng số tiền cá độ 6.900.000 đồng, Kh thắng số tiền cá đọ 2.200.000đồng, H thắng số tiền cá độ 395.000 đồng. Như vậy tổng số tiền T phải trả thưởng cho những người chơi số tiền cá độ 9.795.000đồng ( trong đó Th trả thưởng số tiền cá độ 5.882.500 đồng, T trả thưởng số tiền 3.912.500 đồng).

Như vậy số tiền Trịnh Danh T sử dụng vào đánh bạc là 34.295.000 đồng; Phạm Chí Th sử dụng số tiền 21.382.500 đồng; Hoàng Anh D sử dụng số tiền vào đánh bạc là 25.900.000 đồng; Đinh Trọng Kh sử dụng số tiền 6.200.000đồng.

Hành vi trên của Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh thực hiện, đã phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự được quy định “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc vi phạm quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Khoản 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000 đồng”

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Do đó cần phải xử phạt nghiêm minh với mức hình phạt nghiêm khắc có như vậy mới nhằm ngăn chặn tệ nạn đánh bạc nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.

Về vị trí vai trò: Trong vụ án các bị cáo cùng rủ nhau chơi cá độ nên có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Phạm Chí Th là người có vai trò chính bị cáo nhận cược với các bị cáo khác qua bị cáo T. Sau đó đến bị cáo T là người có vai trò sau Th, bị cáo T nhận kèo của các bị cáo rồi chuyển kèo cho Th nên T có vai trò thứ 2. Còn các bị cáo khác khi được rủ chơi cá độ đã cùng tham gia nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi mà mình đã thực hiện.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ Luật hình sự ( Riêng đối với T quá trình điều tra đã lập công chuộc tội, bị cáo đã báo tin cho cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ vụ án ma túy nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1 điều 51 BLHS). Riêng bị cáo Phạm Chí Th tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên Tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là con của Liệt sỹ đây là những tình tiết được quy định tại điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh không có tình tiết tăng nặng.

Riêng bị cáo Phạm Chí Th, năm 2002 bị xét xử 24 tháng tù về tội cố ý gây thương tích, bị cáo chấp hành xong ngày 24.11.2004; Bản án số 14 ngày 25/10/2005 xử phạt 6 tháng tù về tội đánh bạc bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 24/11/2006. Như vậy đến ngày 27/1/2008 bản án năm 2002 đã được xóa. Ngày 08/1/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư xử phạt Tái phạm nguy hiểm xử phạt bị cáo 18 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt chính ngày 24/10/2014. Hình phạt bổ sung ngày 6/7/2018. Ngày 16/9/2016 Tòa án huyện yên mô xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ đối với hành vi đánh bạc dưới 5.000.000đồng, do bị cáo có tiền án nên tiền án là tình tiết cấu thành tội phạm, không bị coi là tái phạm. bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 24/10/2017 và tiền phạt ngày 06/7/2018. Như vậy lần phạm tội này là tái phạm do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Nhân thân: Các bị cáo Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh đều là người có nhân thân tốt. Riêng bị cáo Th là người có nhân thân xấu có 02 tiền sự về hành vi đánh bạc và đã từng bị xét xử về tội cố ý gây thương tích vào năm 2002.

Đối với Phạm Văn Th với thời gian tạm giữ từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018 chuyển tạm giam, thời gian tạm giữ và tạm giam là 6 tháng 15 ngày đã đủ để bị cáo suy nghĩ lại việc làm của mình. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt tù bị cáo bằng thời gian đã tạm giữ, tạm giam. Bị cáo đánh bạc nhằm mục đích lợi nhuận do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

Còn các bị cáo Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh đều chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để cải tạo các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có thể giáo dục bị cáo trở thành người tốt, cần áp dụng hình phạt chính bằng phạt tiền.

Trong vụ án cùng tham gia còn có Lê Xuân H và Trần Văn Ch là người đã đã cá độ bóng đá với T, số tiền H sử dụng vào cá độ là 1.395.000 đồng; số tiền Ch sử dụng vào cá độ là 500.000 đồng. H và Ch đều là người chưa bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” hoặc “ Gá bạc” nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó cơ quan công an đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với H và Ch.

Trong khi khám xét nhà ở của Th có thu giữ 02 mảnh giấy vỏ cây thuốc lá trên đó có ghi các dãy số như để ghi số lô, số đề. Vũ Thị L khai đó là L ghi ra nhưng chưa ghi ở đâu, đánh với ai nên hành vi của L không vi phạm pháp luật.

Đối với số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai các bị cáo thỏa thuận với nhau sẽ thanh toán vào ngày hôm sau khi kết thúc trận đấu. Các bị cáo chưa có ai thanh toán cho nhau thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang do đó cần truy thu số tiền mà các bị cáo đã cá độ với nhau .

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: 6 chiếc điện thoại di động mà cơ quan điều tra đã thu giữ cùng với thẻ sim điện thoại. Trong đó có 01 chiếc điện thoại do Kh tự giao nộp chiếc điện thoại Nokia 105 lắp sim 0906294276 và 01297013368 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Kh. Còn lại là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Trả lại 01 ví giả da mầu đen; 01 chứng minh thư; 01 thẻ ATM; 01 giấy phép lái xe đều mang tên Phạm Chí Th cho Phạm Chí Th.

Riêng số tiền đã thu giữ 1.810.000đồng của Phạm Chí Th không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho Phạm Chí Th nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án

Trả lại cho các bị cáo sim điện thoại đã đăng ký thuê bao; riêng hai chiếc sim thuê bao 0989930283 và chiếc sim thuê bao 0976051260 của Chi và của Huân tịch thu tiêu hủy.

Trả lại cho Đinh Trọng Kh chiếc điện thoại Nokia 105, màu xanh có số IMEL1: 355803092088515, số IMEL2: 355803097088510 bên trong lắp sim 0906294276 và 01297013368.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 , điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về áp dụng điều luật:

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; các điểm s, x khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với Phạm Chí Th (tên gọi khác Phạm Văn Th):

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh; ( riêng đối với Trịnh Danh T áp dụng thêm điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự)

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 BLHS; các điểm a khoản 2 Điều 106, điểm a khoản 3 điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên bố các bị cáo: Phạm Chí Th, Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh phạm tội “ đánh bạc”.

2. Về Hình phạt:

2.1: Xử phạt: Phạm Chí Th 06 tháng 15 ngày (sáu tháng, mười lăm ngày) tù. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Phạt bổ sung: 15.000.000 ( mười lăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà Nước.

2.2: Xử phạt Trịnh Danh T số tiền 40.000.000( Bốn mươi triệu) đồng.

2.3: Xử phạt Hoàng Anh D số tiền 30.000.000đồng ( ba mươi triệu) đồng

2.4: Xử phạt Đinh Trọng Kh số tiền 20.000.000đ( Hai mươi triệu ) đồng.

3. Truy thu nộp ngân sách nhà nước:

3.1 Buộc Phạm Chí Th phải nộp số tiền 5.882.500 đ (Năm triệu tám trăm tám mươi hai nghìn năm trăm đồng) để sung nộp ngân sách Nhà nước.

3.2 Buộc Trịnh Danh T phải nộp số tiền 3.912.500đ (Ba triệu, chín trăm mười hai nghìn năm trăm đồng) để sung nộp ngân sách Nhà nước.

3.3 Buộc Hoàng Anh D phải nộp số tiền 19.000.000đ ( mười chín triệu đồng) để sung nộp ngân sách Nhà nước.

3.4 Buộc Đinh Trọng Kh phải nộp số tiền 4.000.000đ ( Bốn triệu đồng ) để sung nộp ngân sách Nhà nước.

3.5 Buộc Lê Xuân H phải nộp số tiền 1.000.000đ ( một triệu đồng) để sung nộp ngân sách Nhà nước.

3.6 Buộc Trần Văn Ch phải nộp số tiền 500.000đ ( Năm trăm nghìn đồng ) để sung nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

4.1 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng; số IMEI 35334070289179; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu đen số IMEI: 013738001985423 ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, màu đen số IMEI1: 866907032346131, số IMEI2: 86690732346123; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen có sô IMEI1: 3576250854469101, số IMEI2: 35765108544691101; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng có sô IMEI1: 35323607275032901, số IMEI2: 353237072750332701;

4.2 Trả lại cho Đinh Trọng Kh chiếc điện thoại Nokia 105, màu xanh có số IMEI1: 355803092088515, số IMEI2: 355803097088510 bên trong lắp sim 0906294276 và 01297013368.

4.3 Trả lại cho Phạm Chí Th số tiền 1.810.000đồng ( Một triệu tám trăm mười nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4.4 Trả lại cho Phạm Chí Th 01 ví giả da màu đen; 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Chí Th; 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Chí Th; 01 thẻ ATM mang tên Phạm Chí Th Cùng 1 sim có số thuê bao 0971581981)

4.5 Trả lại cho Trịnh Danh T chiếc sim thuê bao số 0912667314.

4.6 Trả lại cho Hoàng Anh D sim thuê bao 01297579666 và 09683322226.

4.7 Tịch thu tiêu hủy sim thuê bao 0989930283 và chiếc sim thuê bao 0976051260

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 01 năm 2019 và ủy nhiệm chi lập ngày 08/01/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc các bị cáo: Phạm Chí Th, Trịnh Danh T, Hoàng Anh D, Đinh Trọng Kh nỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Án xử công khai sơ thẩm báo để các bị cáo, người có quyền lợi liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ