vanban.org

Bản án 08/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.

* Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. *Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 15(Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/10/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẬU LỘC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HSST
Ngày 24/01/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC -TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Hoàng Văn Cường

Ông Nguyễn Ngọc Thành

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2019/HSST ngày 10/01/2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:10/2019/QĐXXST-HS ngày 10/01/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn T - Sinh năm: 1990

Sinh trú quán: xóm 15, xã Giao L, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Con ông: Vũ Tất Th và bà Đặng Thị H; Gia đình có 04 chị em bị cáo là con thứ 2; Vợ Cao Thị Q, vợ chồng có 01 con sinh năm 2012 Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Nhỏ bố mẹ nuôi ăn học đến lớp 9, năm 2009 tham gia quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2010 xuất ngũ về địa phương, là đối tượng nghiện chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2018 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị: Cao Thi Q- sinh năm 1991; Trú quán; xã Giao L, huyện Giao thủy, tỉnh Nam Định. Có mặt tại phiên tòa

Chị: Cao Thi Tâm- sinh năm 1993; Trú quán; xã Hoằng Tr, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên tòa

*Ngƣời chứng kiến:

Anh Trịnh Văn Kh - Sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn Phú L, xã Đại L, huyện Hậu Lộc,Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 17/10/2018, tại thôn Phú Lý xã Đại Lộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác thuộc phòng điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa, phát hiện Vũ Văn T điều khiền xe máy BKS 36B3- 528.44 có biều hiện nghi vấn, nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra và phát hiện trong túi quần bên trái T đang mặc có gói ni lon màu xanh bọc giấy màu trắng bên trong có chất bột màu trắng cục vụn, Tuyên khai đó là ma túy. Tổ công tác lập biên bản, thu giữ, niêm phong vật chứng và 01 ví da màu đen bên trong có 5.000.000đ, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS 36B3- 528.44 , 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 226759, 01 giấy phép lái xe, 01 bảo hiểm mô tô, 01 thẻ siêu thị điện máy HC đều mang tên Cao Thị T và 01 sổ hộ khẩu có tên chủ hộ là Vũ Văn T vợ là Cao Thị Q. Tại kết luận giám định số 2199/MT – PC09 ngày 19/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,308g (Không phẩy ba không tám gam) loại Hê roin.

Về nguồn gốc chất ma túy trên: Vũ Văn T khai nhận, sáng ngày 17/10/2018 T mượn xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS 36B3- 528.44 của chị Cao Thị T đi ra nhà máy thuốc lá Thanh Hóa tại huyện Hà Trung gặp một người thanh niên lạ mặt khoảng 27 tuổi không biết tên, tuổi địa mua 400.000đ ma túy, trên đường về thị bị bắt.

Theo báo cáo của chị Cao Thị T xe mô tô nhãn hiệu Hon da Vision BKS 36B3- 528.44 T sử dụng để đi mua ma túy là T mượn của chị trong cốp xe có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 226759, 01 giấy phép lái xe, 01 bảo hiểm mô tô, 01 thẻ siêu thị điện máy HC của chị đi phô tô sổ hộ khẩu để xin việc làm. Chị Cao Thị Q báo cáo số tiền 5.000.000đ là của chị đưa cho Vũ Văn T để chuẩn bị mừng đám cưới. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và đồ vật cho chị Cao Thị T và trả cho chị Cao Thị Q 01 ví da, 5.000.000đ, 01 sổ hộ khẩu.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Tuyên, do không biết tên tuổi địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

Vật chứng vụ án: 01 phong bì ma túy niêm phong hoàn lại sau giám định hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, chờ xử lý.

*Tại Cáo trạng số 11/CT - VKSHL ngày 10 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đề nghị xử phạt Vũ Văn T từ 15 đến 18 Tháng tù. Vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng hoàn lại sau giám định. Trách nhiệm dân sự không yêu cầu miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 40 phút ngày 17/10/2018, tại thôn Phú L, xã Đại L, huyện Hậu Lộc Vũ Văn T Tàng trữ trái phép 0,308g (Không phẩy ba không tám gam) Hêroin. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Cáo trạng số 11/CT -VKSHL ngày 10/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Vũ Văn Tuyên về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội do đó phải xử lý theo quy định của pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Quá trình học tập và công tác chưa vi phạm pháp luật, là đối tượng nghiện ma túy.

Do đó khi lượng hình cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp chế XHCN. Xét cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu được trong vụ án là vật cấm lưu hành do đó tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu miễn xét.

Về án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.

* Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

*Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 15(Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/10/2018.

*Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong hoàn lại sau giám định. Đặc điểm theo biên bản bàn giao và phiếu nhập kho số NK 2019/12 ngày 26/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

*Án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Cao Thị Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Cao Thị T có quyền kháng cáo bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi gửi

Cỡ chữ