vanban.org

Bản án 08/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 25/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt và điều luật áp dụng: Xử phạt bị cáo Hà Văn H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02(hai) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà văn h tàng trữ và mua ban trái phép chất ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH
---***---

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HSST
Ngày 25/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM



TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Cao gia Tuấn và bà Nguyễn Thị Là.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2019. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2019/HSST ngày 01/02/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2019/ QĐXX - HS ngày 14/02/2019 đối với :

Bị cáo: Hà Văn H; tên gọi khác: Không; Sinh năm 1979.

Nơi sinh, nơi cư trú: Thôn CN xã ĐH, thành phố TB, tỉnh TB; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Văn H1; Con bà Hà Thị T1. Bố mẹ bị cáo đều sinh sống tại thôn C N, xã ĐH, thành phố TB, tỉnh TB . Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 15/11/2018 đến ngày 24/11/2018 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

( Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn L, xã Đ X, huyện ĐH, tỉnh TB.

(Vắng mặt)

- Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Như K, sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn ĐQ, NXá, huyện ĐH, tỉnh TB.

2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1953

3. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1959

Đều ở địa chỉ: Thôn CT, xã ĐD, huyện ĐH, tỉnh TB

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn B sinh năm 1972

Địa chỉ: Thôn QT, xã ĐH, thành phố TB, tỉnh TB

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 20 phút ngày 14/11/2018, tại trục đường Thôn CT, xã ĐD, huyện ĐH, tỉnh TB, Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã Đông Dương, huyện Đông Hưng bắt quả tang Hà Văn H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T. Cơ quan công an đã mời người chứng kiến sau đó tiến hành kiểm tra người Tưởng thu giữ ở túi áo khoác bên phải 01 gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ kích thước (0,5 x 1) cm bên trong có chất bột màu trắng dạng cục T vừa mua của H, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA đen trắng. Kiểm tra người H cơ quan công an thu giữ ở túi áo khoác bên phải 200.000đồng tiền H vừa bán ma túy cho T, thu giữ tại túi áo khoác bên trái của H 01 gói được gói bằng giấy trắng dạng giấy ăn bên trong có 02 gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ kích thước (0,5 x1) cm, mở ra kiểm tra có chất bột màu trắng dạng cục và 01 điện thoại cũ nhãn hiệu HUAWEI. Quản lý của H 01 xe mô tô nhãn hiệu WaveS đã cũ không có biển kiểm soát. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong vật chứng, sau đó đưa H, T về trụ sở UBND xã Đông Dương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và dẫn giải về trụ sở Công an huyện Đông Hưng để giải quyết. Qua xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy ngày 15/11/2018 đối với Hà Văn H, Trung tâm y tế huyện Đông Hưng có kết quả trả lời Huy dương tính với ma túy, loại heroin và morphin.

Quá trình điều tra Hà Văn H khai nhận: Huy là đối tượng sử dụng ma túy từ đầu năm 2018. Ngày 12/11/2018 Huy bắt xe ô tô khách từ nhà tại Thôn CN xã ĐH, thành phố TB, tỉnh TB; sang khu vực đường tàu, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Đến nơi H tìm gặp một người phụ nữ khoảng 30 tuổi H không biết tên, địa chỉ hỏi mua 1.000.000đồng ma túy. Người phụ nữ đồng ý đưa cho H 01 gói ma túy. H cầm gói ma túy vừa mua bỏ vào túi quần đang mặc sau đó bắt xe ô tô khách về nhà. Đến ngày 14/11/2018 tại giường ở phòng ngủ của H, H dùng dao lam, giấy trắng có dòng kẻ, mang gói ma túy đã mua ngày 12/11/2018 ra dùng dao lam chia gói ma túy thành 11 cục ma túy nhỏ, những phần vụn của ma túy H lấy để sử dụng bằng hình thức hít. 11 cục ma túy đã chia H lấy giấy trắng có dòng kẻ gói được 04 gói, còn 07 cục vẫn để trên mặt tờ giấy trắng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/11/2018, H kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI của mình thấy có cuộc gọi nhỡ từ số điện thoại 0395860252. H có gọi điện lại hỏi thì biết là số điện thoại của Nguyễn Văn T là bạn gọi đến cho H . Do T nghe bạn bè nói H có ma túy bán nên T hỏi H : “Anh còn hàng không, em vật quá, anh cho em quả 200.000”. Ý T là hỏi mua của H 200.000đồng ma túy. H đồng ý và hẹn T ra khu vực C T thuộc địa phận xã ĐD để bán ma túy. Khi đi H lấy 03 gói ma túy có sẵn ở nhà để vào túi áo khoác bên trái đang mặc. Mục đích là bán cho T 01 gói, còn 02 để sử dụng cho bản thân, sau đó H điều khiển xe mô tô không có biển kiểm soát nhãn hiệu WaveS đến khu vực đã hẹn T. Còn T bắt xe ôm của Nguyễn Như K sinh năm 1988, trú tại xã NX, huyện ĐH đến. Khi H đến nơi thấy T và K đang dừng xe đứng ở đầu cầu, H tiến lại gặp T. T xuống xe đi lại phía H, cách K khoảng 4 đến 5 mét. Do đã giao dịch trên điện thoại nên H và T không nói gì. T lấy tiền đưa cho H 200.000đồng gồm 01 tờ mệnh giá 200.000đồng H nhận tiền đưa lại cho T 01 gói ma túy được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ. T vừa cầm gói ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Công an huyện Đông Hưng đã mời người chứng kiến, tiến hành kiểm tra người H, T thu giữ vật chứng và dẫn giải H, T về trụ sở Công an huyện Đông Hưng để giải quyết.

Ngày 14/11/2018, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Hà Văn H, thu giữ trên mặt chiếu đầu giường ngủ của H 01 mảnh mảnh giấy trắng có dòng kẻ kích thước (10 x 10) cm trên mặt tờ giấy có 07 cục chất bột màu trắng và 01 gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ kích thước (0,5 x 1)cm mở ra kiểm tra bên trong có chất bột màu trắng. Cơ quan điều tra đã niêm phong vật chứng và quản lý 02 lưỡi dao lam nhãn hiệu Croma cũ, 10 mảnh giấy trắng có dòng kẻ kích thước (4 x 4) cm. H khai nhận số ma túy trên là của H để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Kết luận giám định số 394/KLGĐ - PC09 ngày 15/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận:

- Mẫu gửi giám định thu của Nguyễn Văn T là ma tuý, loại Heronie (Hêrôin), có khối lượng 0,0298 gam (Không phẩy không nghìn hai trăm chín mươi tám).

- Mẫu gửi giám định thu giữ của Hà Văn H là ma túy, loại heroin có khối lượng 0,1817 gam ( không phẩy một nghìn tám trăm mười bảy gam).

- Mẫu gửi giám định thu khi khám xét nhà ở của Hà Văn H là ma túy, loại heroin có khối lượng 0,6234 gam (không phẩy sáu nghìn hai trăm ba mươi tư gam).

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 16/CT- VKSĐH ngày 30/01/2019 đã truy tố bị cáo H về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở đó đề nghị HĐXX kết tội bị cáo Huy theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng điểm Khoản 1 Điều 251, Điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50, Điều 55 tuyên bố bị cáo H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạt bị cáo từ 01(một) năm 09(chín) tháng - 02(hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” ; từ 02(hai) năm - 02(hai) năm 03(ba) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy từ 5.000.000 đồng – 7.000.000 đồng và đề nghị HĐXX xử lý vật chứng.

Tại phiên tòa bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau:

Hồi 20 giờ 20 phút ngày 14/11/2018, tại trục đường thôn CT, xã ĐD, huyện ĐH, tỉnh TB, bị cáo có hành vi bán trái phép 0,0298 gam heroin cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 trú tại thôn L, xã ĐX, ĐH, TB bị công an huyện ĐH và công an xã ĐD phối hợp bắt quả tang. Ngoài ra bị cáo H còn tàng trữ 0,8051gam heroin trên người và tại phòng ngủ của gia đình H với mục đích để sử dụng.

Bị cáo H xác định cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.

Người có quyền lợi liên quan vắng mặt không có ý kiến tranh luận.

Kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa bị cáo nói lời nói sau cùng: Do nghiện ma túy nên bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối hận về việc làm của mình, Đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội . Bị cáo có bố mẹ già đều đã ngoài 80 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình chăm sóc bố mẹ già.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi quyết định tố tụng: Các tài liệu chứng chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án thì thấy đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với cáo trạng số 16/CT - VKSĐH ngày 30/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an huyện Đông Hưng lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 14/01/2019; Kết luận giám định 394/KLGĐ-PC09 ngày 15/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, lời khai của những người chứng kiến là ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn VănV, lời khai của người có quyền lợi liên quan anh Nguyễn Văn T và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận Hồi 20 giờ 20 phút ngày 14/11/2018, tại trục đường thôn CT, xã Đ D, huyện ĐH, tỉnh TB, bị cáo có hành vi bán trái phép 0,0298 gam heroin cho Nguyễn Văn T bị Công an huyện Đông Hưng và Công an xã ĐD phối hợp bắt quả tang. Ngoài ra bị cáo còn tàng trữ 0,8051gam heroin trên người và tại phòng ngủ của gia đình bị cáo ở thôn CN, xã ĐH, thành phố TB với mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

.......

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy

1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

....

c. Heroin, cocain, methamphetamineAmphetamine, MDMA hoặc XLR -11cos khối lượng từ 0,1gam đến 05 gam;

.....

[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội bị cáo đã biết tác hại của ma túy, biết việc tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn cố tình mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử và áp dụng mét møc ¸n tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[ 4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[ 5] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo có hai hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy. Đối với hành vi tàng trữ không áp dụng hinh phạt bổ sung. Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị cáo mua bán với mục đích vụ lợi. Do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[ 6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại hê rô in thu giữ của T, và thu giữ trên người và trong phòng ngủ của bị cáo H là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- 02 lưỡi dao lam nhãn hiệu Croma; 10 mảnh giấy trắng là những đồ vật bị cáo dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI cơ quan điều tra thu giữ của Hà Văn H là đồ vật bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu đấu giá sung quỹ nhà nước;

- Số tiền 200.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ của H là tiền H có được do bán ma túy cho T mà có cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- 01 điện thoại NOKIA thu giữ của Nguyễn Văn T qua điều tra xác định là của B, B cho T mượn để liên lạc, nhưng B không biết việc T mượn là để liên lạc mua bán ma túy, vì vậy cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng đã trả lại chiếc điện thoại cho B là đúng quy định của pháp luật, hội đồng xét xử chấp nhận.

- 01 xe moto nhãn hiệu Honda WaveS sơn màu đen vàng đã cũ không đeo biển số theo H khai nguồn gốc xe trên là của một người bạn tên là D con ông L ở xã ĐH thành phố TB cho H mượn làm phương tiện đi lại. Biển kiểm soát của xe đã bị rơi trước đó nên H vẫn sử dụng xe không biển số để đi lại. Đến khoảng giữa năm 2018 H biết D đã chết, nhưng gia đình D không còn ai nên H không trả được xe mà tiếp tục sử dụng chiếc xe trên. Cơ quan điều tra đã Trưng cầu phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh Thái Bình giám định số khung, số máy của xe. Kết quả: số khung, số máy bị tẩy xóa chỉ xác định được một số chữ, số nguyên thủy. Tiến hành xác minh người tên D xác định là Bùi Văn D, sinh năm 1983 con ông Bùi Văn L ở thôn HT, xã ĐH, thành phố TB nhưng D đã chết, gia đình D không còn ai ở địa phương. Chiếc xe trên Cơ quan điều tra tiếp tục quản lý, xác minh xử lý theo quy định hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi liên quan được kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Trong vụ án này còn có Nguyễn Văn T, là người có hành vi mua 0,0298 gam ma túy của Huy với mục đích sử dụng. Tưởng là người không có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên mua ma túy của H. Do khối lượng ma túy không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Ủy ban nhân dân huyện Đông Hưng đã xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T.

- Đối với hành vi sử dụng ma túy của Huy ngày 14/11/2018 tại nhà ở thôn C N, xã ĐH, thành phố TBì, Công an huyện Đông Hưng đã có công văn đề nghị Công an thành phố Thái Bình xử lý theo thẩm quyền.

- Đối với Nguyễn Như K là người xe ôm T thuê chở T đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định K không biết T thuê xe đi để mua ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý đối với K là đúng quy định của pháp luật.

- Về nguồn gốc số ma túy H khai mua ở khu vực đường tàu, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng của một người phụ nữ khoảng 30 tuổi H không biết tên, địa chỉ , do vậy cơ quan điều tra không xác định là ai, do đó không có căn cứ xử lý. Đối với số tiền 1.000.000 đồng H dùng ma túy và số tiền 200.000 đồng T đã dùng để mua ma túy của H là tiền do H và T lao động mà có.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1, 5 Điều 251, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50, Điều 55 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Văn H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02(hai) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”

Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo Hà Văn H phải chịu 03(ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/11/2018.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với bị cáo 7.000.000đồng (bảy triệu đồng) về hành vi mua bán ma túy để sung quỹ nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 02 lưỡi dao lam nhãn hiệu Croma; 10 mảnh giấy trắng 0,7974 gam heroin được niêm phong trong 03 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn trả mẫu vật giám định.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, số tiền 200.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo H là công cụ H dùng vào việc phạm tội và số tiền H có được do phạm tội mà có.

Các đồ vật trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 31 /01/2019.

4.Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án ngày 25/02/2019, Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ